Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

ĐẠO CAO ĐÀI

Hà Lê


Sự ra đời của đạo Cao Đài
- Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của một tôn giáo bản địa Việt Nam, có tên đầy đủ là “Đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Đạo Cao Đài ra đời vào đêm Noel năm 1925 trong bối cảnh cách mạng nước ta đang bị khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo, còn chính sách cai trị thực dân Pháp đang đẩy nông dân Nam Bộ vào con đường cùng không lối thoát, trong khi các tôn giáo khác dần dần bị mất uy tín. Đó còn là hệ quả trực tiếp và điển hình của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật – Lão – Nho), là sự hòa nhập giữa trào lưu “Thần linh học” – một hình thức mê tín của dân phương Tây với tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt trong những năm 1924 – 1926, đã tạo nên phong trào cầu cơ – chấp bút (gọi tắt là cơ bút), khá sôi nổi ở vùng Nam Bộ. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây. Vì lẽ đó ngay lập tức đạo Cao đài được đông đảo quần chúng đón nhận và được thống đốc Nam Kỳ đồng ý vào tháng 10 năm 1926. Đạo Cao đài do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản), công chức chủ trương, ban đầu vốn là một trào lưu chính trị với mục đích thành lập đạo để tập hợp lực lượng quần chúng mà chủ yếu là nông dân chống lại sự kỳ thị, bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp. Song sau đó trào lưu này đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo lớn tại Nam bộ cho đến tận ngày nay.
- Sự ra đời của đạo Cao Đài gắn liền với tên tuổi của một số nhân vật sau đây:
+ Ông Ngô Minh Chiêu:
Ngô Minh Chiêu sinh năm 1879 tại chợ Bình Tây, Chợ Lớn Sài Gòn. Ông học giỏi, là thư ký của Sở di trú tại Sài gòn rồi tri phủ Phú Quốc. Ông ham mê truyện thần tiên và cầu cơ, tiếp thu “Thông linh học”. Oâng tổ chức cầu cơ và tuyên truyền là mình đã tiếp xúc được với một đấng thiêng liêng là Cao Đài tiên ông và được vị tiên này phán bảo sứ mệnh xây dựng một tôn giáo mới ở phương Nam. Đến khi đạo Cao Đài chính thức ra đời, ông nhường quyền lãnh đạo cho ông Lê Văn Trung rồi trở về Cần Thơ tu luyện và hình thành phái Cao Đài Chiếu Minh đàn (là biến âm của tên ông). Ông mất năm 1932.
+ Ông Lê Văn Trung:
Lê Văn Trung sinh năm 1875 tại Chợ Lớn, Sài gòn. Năm 1893 tốt nghiệp trường trung học và được bổ làm văn phòng thống đốc Nam kỳ, sau đó chuyển sang làm thầu khoán và được bầu làm nghị sĩ, tham gia hội đồng tư vấn phủ Thống đốc. Năm 1920, ông bị thua lỗ trong kinh doanh và bị phá sản, ông quay sang hoạt động tôn giáo. Nhờ sự thông minh, tài ngoại giao và tài tổ chức, ông đã nhanh chóng tiếp thu sứ mệnh khai đạo của ông Ngô Minh Chiêu và trở thành Giáo tông đứng đầu “Cửu trùng đài” – cơ quan hành pháp của đạo Cao Đài. Ông mất năm 1941.
+ Ông Phạm Công Tắc:
Phạm Công Tắc sinh năm 1893 tại Tân An. Ông bắt đầu làm công chức ngành thuế từ năm 1940. Sau do bị chèn ép nên ông bỏ nhiệm sở chuyển sang hoạt động đạo Cao Đài với chức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp Thiên đài – cơ quan lập pháp của đạo này. Sau khi ông Lê Văn Trung chết, Phạm Công Tắc trở thành lãnh tụ tối cao nắm cả hai cơ quan Hành pháp và Lập pháp và cũng từ đó mâu thuẫn trong nội bộ đạo Cao Đài nổ ra và chia rẽ thành nhiều hệ phái.
Giáo lý cơ bản của đạo Cao Đài
- Nội dung giáo lý của đạo Cao Đài là sự vay mượn, chắp vá, kết hợp, nhào trộn các giáo lý của các tôn giáo đã có từ cổ chí kim, từ đông sang tây.
- Đạo Cao đài có chủ trương “Qui nguyên tam giáo” (Phật – Lão – Nho, đây có thể coi là nền tảng tư tưởng của đạo, đạo Cao Đài hợp nhất ba tư tưởng lớn của ba đạo (từ bi của đạo Phật, bác ái của Đạo giáo, công bằng của đạo Nho) và có ý đồ “hợp nhất ngũ chi” – thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo – Khổng tử, thần đạo – Khương Thái Công, thánh đạo
– Giê su, tiên đạo – Lão Tử, Phật đạo - Thích ca Mầu ni) và đấy là trung tâm giáo lý của đạo. Từ đó đạo Cao Đài bộc lộ ý đồ là “tôn giáo của tôn giáo” và làm cho giáo lý mang tính dung hợp rất phức tạp.
- Giáo lý của đạo Cao Đài đặc biệt quan tâm và đề cao tính thiêng liêng huyền diệu của cơ bút, coi đó là linh hồn của đạo.
Luật lệ, lễ nghi của đạo Cao Đài
- Đạo Cao Đài đặt ra nhiều qui định về luật lệ, lễ nghi để hướng dẫn người theo đạo tu tập và xử thế. Luật đạo có nhiều nhưng có một số nội dung quan trọng là “ngũ giới cấm”, “tứ đại điều qui”,…
+ Ngũ giới cấm (tức 5 điều cấm kỵ) : bất sát sinh, bất du đạo, bất tửu nhục, bất tà dâm, bất vọng ngữ.
+ Tứ đại điều quy: 4 điều trau dồi đức hạnh.
1. Tuân lời dạy bề trên, lấy lẽ hoà người (ôn hoà)
2. Chớ khoe tài kiêu ngạo, giúp người nên Đạo (cung kính)
3. Đừng vay mượn không trả (khiêm tốn)
4. Đừng kính trước, khinh sau
+ Ăn chay từ 6 ngày (lục trai) đến 10 ngày (thập trai)
- Đạo Cao Đài còn những quy định về việc nhập môn cầu đạo, xây dựng thánh thất, tổ chức quan, hôn, tang, tế… đạo Cao Đài rất chú trọng giáo dục các tín đồ về đạo đức theo tiêu chuẩn đạo đức Tam cương, ngũ thường của Nho giáo.
- Linh tượng thờ chủ yếu của đạo Cao Đài là hình con mắt, gọi là Thiên Nhãn.
- Các lễ của đạo Cao Đài :
+ Hàng ngày có 4 khóa lễ vào các giờ: sáng sớm, giữa trưa, chập tối và đêm khuya.
+ Hàng tháng có 2 ngày lễ vào ngày rằm và mồng một, âm lịch.
+ Hàng năm có các ngày lễ chính (theo âm lịch) là ngày 9 tháng Giêng, 15 tháng hai, 8 tháng tư, 15 tháng bảy, 15 tháng tám, 15 tháng mười và ngày 15 tháng Chạp.
- Lễ nghi của đạo Cao Đài khá rườm rà và cầu kỳ. Đạo Cao Đài giải thích rằng lễ nghi sinh hoạt tôn giáo cũng thể hiện tinh thần tổng hợp tôn giáo. Đạo phục chung là màu trắng. Riêng các chức sắc dùng màu theo ngành: Thái – thuộc Phật – màu vàng; Thượng – thuộc Lão – màu xanh; Ngọc – thuộc Nho – màu đỏ.
Tổ chức của đạo Cao Đài
- Mỗi hệ phái của đạo Cao Đài có tổ chức giáo hội riêng. Nhưng nhìn chung tổ chức giáo hội của Cao Đài được mô phỏng theo mô hình thể chế chính trị quân chủ lập hiến.
- Thành phần của giáo hội Cao Đài gồm chức sắc, chức việc và tín đồ.
- Tổ chức ở Trung ương của đạo gồm có 3 đài là: Bát quái đài, Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài.
+ Bát quái đài: là nơi thờ phụng của đạo gồm các vị Thánh, Thần, Tiên, Phật.. do Lý Thái Bạch (còn gọi là Lý Đại Tiên) thay mặt Thượng đế làm chưởng quản.
+ Hiệp Thiên đài: vừa là cơ quan lập pháp vừa là cơ quan tư pháp, đứng đầu là chức Hộ pháp.
+ Cửu Trùng đài: là cơ quan hành pháp đứng đầu là chức Giáo tông.
- Hiện nay tổ chức hành chính của đạo Cao Đài được sắp xếp lại còn hai cấp: trung ương và cơ sở. Tương ứng với bộ máy tổ chức ấy, đạo Cao Đài có một hệ thống chức sắc bao gồm nhiều cấp bậc khác nhau với những qui định về số lượng khá cụ thể. Trước kia, mọi chức sắc quan trọng của đạo được bổ nhiệm thông qua cơ bút, còn ngày nay, mọi chức sắc của đạo đều thông qua điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử.
Đạo Cao Đài trong những năm gần đây
- Đạo Cao Đài ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân Nam Bộ. Trên thực tế, nó có vai trò cố kết người dân không chỉ về mặt tinh thần mà còn về các mặt kinh tế, xã hội. Vì thế đạo phát triển khá nhanh chóng.
- Khi mới ra đời, đạo Cao Đài là một tổ chức thống nhất với cơ quan đầu não đặt tại Tòa thánh Tây Ninh nhưng sau đó đạo Cao Đài sớm phân hoá thành nhiều hệ phái (trước 1975 có khoảng gần 20 hệ phái, nay còn khoảng trên dưới 10 hệ phái). Quá trình phân hoá về tổ chức là quá trình xa rời nhau về thái độ chính trị của các hệ phái Cao Đài. Một số chức sắc của một số giáo phái Cao Đài mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, bị các thế lực đế quốc lợi dụng, đi ngược lại lợi ích dân tộc. Còn tuyệt đại đa số tín đồ, số đông chức sắc của nhiều hệ phái có quá trình gắn bó với cách mạng, đóng góp công sức vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.
- Sau năm 1975, các chức sắc và hơn 1 triệu tín đồ các hệ phái chủ yếu tu tại gia. Trong thời kỳ đổi mới, các hệ phái đã sinh hoạt trở lại với sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước. Nhiều hệ phái được thừa nhận tư cách pháp nhân như: Tiên thiên, Minh Chơn đạo, Bạch Y Liên Đài… Các hệ phái tổ chức các đại hội. Qua đó, lòng tin vào chính sách tôn giáo của Đảng được củng cố trong tín đồ. Những nhân tố tích cực của Đạo được khơi dậy, khắc phục một bước tình trạng mất đoàn kết trong chức sắc. Xu thế chung là tín đồ đạo Cao Đài muốn hành đạo thuận lợi trong khuôn khổ luật pháp và làm tròn nghĩa vụ công dân.
Các hội thánh Cao Đài đã được xây dựng lại và có tư cách pháp nhân:
1. Cao Đài Minh Chơn đạo. Toà thánh Tổ đình tại Cà Mau
2. Cao Đài Ban Chỉnh đạo. Toà thánh Tổ đình tại Bến Tre
3. Cao Đài Tiên Thiên. Toà thánh Tổ đình tại Bến Tre
4. Cao Đài Tây Ninh. Toà thánh Tổ đình tại Tây Ninh
5. Truyền giáo Cao Đài. Toà thánh Tổ đình tại Đà Nẵng
6. Cao Đài Chiếu Minh Long Châu. Toà thánh Tổ đình tại Cần Thơ
7. Cao Đài Bạch Y. Toà thánh Tổ đình tại Kiên Giang
8. Cao Đài Cầu kho Tam Quan. Toà thánh Tổ đình tại Bình Định
9. Cao Đài Chơn lý. Toà thánh Tổ đình tại Tiền Giang
10. Cơ quan phổ thông giáo lý (Thành phố Hồ Chí Minh)

Khái quát chung về lịch sử Kitô giáo

Sự ra đời Kitô giáo
- Kitô giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở các tỉnh phía đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ. Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tư tưởng được giải phóng và tự do. Bên cạnh đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cư ở đây vốn theo đa thần giáo, trong quá trình thống nhất của đế chế đã xuất hiện yêu cầu thống nhất về tư tưởng, trong đó có nhu cầu về tôn giáo độc thần, vì vậy Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo vốn đang tồn tại ở vùng này
- Sự ra đời của Kitô giáo gắn với tên tuổi của Giêsu Kitô. Ông sinh ra vào đầu Công nguyên, theo truyền thuyết, bà Maria đã mang thai một cách màu nhiệm và sinh ra ông. Giêsu là người thông minh. Trên cở sở kinh thánh và những nghiên cứu hiện có, ta có thể biết được vài điểm về cuộc sống của Giêsu như sau:
+ Giêsu là người Do Thái.
+ Sống ở đầu thế kỷ I sau Công nguyên.
+ Khoảng 30 tuổi thì bắt đầu truyền, giảng đạo khoảng 3 năm.
+ Thu nhận và đào tạo 12 người thành Thánh tông đồ. Phêrô là Thánh tông đồ cả.
+ Bị sự ghen ghét của các phần tử Do Thái giáo.
+ Sau khi bị kết tội “mưu phản La Mã”, bị đóng đinh chết trên thập tự giá.
Sau khi Giêsu qua đời, Kitô giáo được hình thành.
Sự phát triển của Kitô giáo
- Kitô giáo trong thời kỳ cổ đại:
Đây là thời kỳ Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người Do Thái nhưng bị những người theo Do Thái giáo đả kích và chính quyền La Mã đàn áp. Sang thế kỷ II, tầng lớp quý tộc dần theo Kitô giáo làm thay đổi vị trí và ảnh hưởng của nó, đến cuối thế kỷ II, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã.
- Kitô giáo trong thời trung cổ:
Kitô giáo chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu. Quá trình mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo với những cuộc Thập tự chinh tàn khốc và đẫm máu. Ngay trong bản thân trong Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất ở phía Tây La Mã. Chính thống giáo ở phía Đông La Mã.
- Kitô giáo trong thời kỳ cận – hiện đại:
Đến thế kỷ XVI, sự ra đời, phát triển của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện yêu cầu cải cách Kitô giáo, Với những sự cải cách của Mactin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546) đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin lành. Cũng thời kỳ này vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo. Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo.
Nội dung cơ bản của giáo lý Công giáo
Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho tín đồ đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hình, căn cứ vào kinh thánh nhưng phải dựa vào những lời giải thích truyền thống và là thẩm quyền của Giáo hội. Tín đồ không có quyền kê cứu kinh thánh. Luật lệ, lễ nghi của Công giáo rất phức tạp (12 tín điều trong kinh tín kính,10 điều răn của Chúa, 6 điều răn của Hội thánh, 7 phép bí tích, 1752 điều luật). Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối (mọi việc do Chúa định) và thuyết giáo quyền tập trung (Giáo Hoàng là đại diện Thiên chúa ở trần gian).
Kinh thánh -
Kinh thánh theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời” là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước và Cựu ước. Ban đầu Kinh thánh được truyền khẩu trong dân gian. Đến thế kỷ II thì bắt đầu được viết trên da dê, từ thế kỷ IV – VI được viết trên giấy Papêrút và đến thế kỷ VII mới viết thành sách. Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tích văn học. Trong Kinh thánh bao gồm toàn bộ toàn bộ quan điểm, tư tưởng của giáo lý và tín điều của các đạo Kitô. Tùy theo đạo mà số kinh này được chấp nhận theo yêu cầu của giáo lý các đạo. Ví dụ Đạo Chính thống chú trọng 5 cuốn đầu tiên của Kinh Cựu ước. Đạo Tin Lành lại lấy 4 cuốn Kinh Phúc âm làm giáo nghĩa cơ bản….
- Kinh thánh chia làm 2 bộ:
+ Bộ Cựu ước: có 46 cuốn. Kể về những chuyện trước khi Chúa Giê su ra đời. Bộ này chia làm 4 tập.
Tập 1: Bao gồm 5 cuốn đầu tiên (Ngũ kinh) gồm Sáng thế ký, Xuất hành ký, Lê vi ký, Dân số ký, và Thân mệnh ký.
Tập 2: là bộ sử thư gồm 16 cuốn.
Tập 3:gồm 7 cuốn là những thi ca Triết học.
Tập 4: gồm 14 cuốn sách Tiên tri.
+ Bộ Tân ước: có 27 cuốn chia làm 4 tập.
Tập 1: có 4 quyển sách nổi tiếng gọi là sách Phúc âm. 4 cuốn sách này mô tả cuộc đời của Chúa Giêsu, nhất là 3 năm ông đi truyền đạo.
Tập 2: bao gồm 15 cuốn nói về Công vụ tông đồ. Ghi lại các tông đồ làm việc như thế nào khi Chúa về trời.
Tập 3: có 7 cuốn. Nói về hoạt động của 3 tông đồ giỏi nhất.
Tập 4: có tên là Khải huyền thư. Ghi lại việc con người không nghe lời nên bị Chúa trừng phạt
Một số nội dung cơ bản -
Mười hai tín điều cơ bản:
Tín điều là 1 đoạn văn ngắn viết về các giáo lý chủ yếu tạo ra cơ sở cho bất kỳ phong trào tôn giáo nào hay bất kỳ giáo hội nào. Tín điều phải được chấp nhận không điều kiện (không chứng minh).
Đối với Công giáo trong kinh Tín kính có 12 tín điều cơ bản. Trong đó 8 tín điều nói về bản chất Thiên Chúa, sự hiện thân của chúa Giêsu và ơn cứu độ, 4 tín điều còn lại nói về giáo hội, nhà thờ và cuộc sống vĩnh hằng.
Tín điều căn bản đầu tiên là niềm tin vào Thiên Chúa và sự màu nhiệm của Thiên Chúa. Thiên Chúa có ba ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần nhưng cùng một bản thể. Ba ngôi “đồng vinh, đồng đẳng, đồng quyền” nhưng có chức năng và vai trò khác nhau. Cha – tạo dựng, Con – cứu chuộc, Thánh thần – thánh hoá....
- Bảy phép bí tích:
Phép Bí tích: Một nghi lễ của Thiên Chúa giáo, theo đó ơn Chúa sẽ được đem đến cho các tín đồ.
Trong các nghi lễ, phép bí tích là quan trọng nhất, thể hiện mối quan hệ giao tiếp giữa con người với Chúa. Có 7 bí tích:
1. Bí tích rửa tội: nhằm xóa tội tổ tông và các tội bản thân. Hình thức là lấy nước lã đổ lên đầu kẻ lãnh bí tích rửa tội và đọc “(tên thánh) tôi rửa tội nhân danh cha, con và thánh thần” còn kẻ lãnh bí tích thề hứa bỏ ma quỷ lánh tội lỗi, tin theo Chúa Kitô giữ lề luật của Người.
2. Bí tích thêm sức : để củng cố đức tin kính Chúa
3. Bí tích thánh thể: ăn bánh thánh, uống rượu nho với ý nghĩa đó là mình và máu của Chúa Giêsu để được tha tội.
4. Bí tích giải tội: dành cho người sám hối tội lỗi.
5. Bí tích truyền chức thánh: chỉ dành cho giám mục và linh mục đã được tuyển chọn để họ có quyền tế lễ chăn dắt dân chúa.
6. Bí tích hôn phối: là bí tích kết hợp hai tín hữu 1 nam, 1 nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa.
7. Bí tích xức dầu bệnh nhân: là bí tích nâng đỡ bệnh nhân về phần hồn và phần xác, giúp tín đồ chịu đựng đau khổ, dọn mình trước cái chết.
- Mười điều răn của Chúa
1. Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự.
2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục, tầm thường.
3. Dành ngày Chúa Nhật để thờ phụng Thiên Chúa
4. Thảo kính cha mẹ.
5. Không được giết người.
6. Không được dâm dục.
7. Không được tham lam lấy của người khác
8. Không được làm chứng dối, che dấu sự giả dối.
9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác.
10. Không được ham muốn của cải trái lẽ.
- Sáu điều răn của Hội Thánh
1. Xem lễ ngày Chúa Nhật và ngày lễ buộc.
2. Kiêng việc xác ngày Chúa Nhật.
3. Xưng tội một năm một lần.
4. Chịu lễ ngày phục sinh.
5. Giữ chay những ngày quy định.
6. Kiêng ăn thịt những ngày quy định.
Tổ chức của Công giáo
Quan niệm của Công giáo về Giáo hội
Giáo hội theo nghĩa thông thường là tổ chức của tôn giáo bao gồm toàn thể các thành viên của một tôn giáo, có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở.
Trước đây, khi nhắc đến giáo hội, Công giáo thường hiểu là một tổ chức mà chủ yếu nhấn mạnh đến chức năng lãnh đạo, truyền giảng bao gồm các chức sắc từ Giáo Hoàng đến các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ… mà quên mất các tín đồ, các “con chiên”, cơ sở của công giáo. Ngày nay giáo hội được Công giáo hiểu bao hàm các giáo phẩm, tu sĩ, giáo dân. Tức vừa là tổ chức lãnh đạo, chế định ra các thể chế, truyền bá, giáo dục… vừa là toàn thể cộng đồng tôn giáo – một cộng đồng mà Chúa là đấng tối cao.
Cơ quan lãnh đạo giáo hội công giáo thế giới ở Toà thánh Vaticăng, do Giáo hoàng trực tiếp lãnh đạo, bên dưới là đoàn Hồng y giáo chủ do chính Giáo hoàng bổ nhiệm. Cơ quan chủ yếu của Toà thánh gồm có: Quốc vụ viện, Cục văn thư, Cục tài chính, Toà án, Thánh bộ và Ban bí thư...
Phẩm trật trong giáo hội Công giáo
- Giáo hoàng
Theo quan niệm của Công giáo. Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô (Pierre) và thay mặt Đức Chúa Giêsu làm đầu Hội thánh ở trần gian. Đức Giáo hoàng là biểu tượng và cơ sở của sự thống nhất trong đức tin và sự hiệp thông của các tín đồ.
Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm điều khiển mọi công việc của Hội thánh
- Giám mục
Dưới Toà thánh Vaticăng là Hội thánh ở các địa phận. Điều khiển các Toà thánh ở địa phận là các giám mục. Giám mục có quyền lực tối cao trong địa phận mình cai quản và tuyệt đối tuân lệnh Giáo hoàng. Giám mục điều hành mọi công việc của địa phận, mỗi năm không được vắng quá 3 tháng ở các địa phận, không được cư ngụ ở nhà anh em
- Linh mục
Cơ sở thấp nhất của Hội thánh là Giáo xứ (xứ đạo, họ đạo). Điều khiển giáo xứ và chăn dắt tín đồ là linh mục, linh mục tuyệt đối tuân lệnh giám mục. Có hai loại linh mục: linh mục “Triều” là những linh mục theo đơn vị hành chính từ xứ họ trở lên, linh mục “Dòng” là linh mục làm chuyên môn. Các linh mục có nhiệm vụ chăm sóc giáo dân, không được rời xa quá 2 tháng trong một năm, quyền lợi của các linh mục là quyền được làm các bí tích và và giáo huấn cho các tín đồ.
Việc đào tạo một linh mục rất được coi trọng. Linh mục “Triều” phải qua 7 năm ở chủng viện, 2 năm giúp xứ, 6 năm học ở Đại chủng viện (học Triết học, tâm lý, ngoại ngữ, tâm lý, xã hội học, siêu hình học giáo sử...). Sau đợt sát hạch về về tư cách, ý chí, sức khoẻ, thi cử... các chủng sinh mới được thụ phong linh mục.
Việc thụ phong từ linh mục lên giám mục cũng rất phức tạp: phải trên 30 tuổi, đã có 5 năm làm linh mục, có bằng cử nhân hoặc tiến sĩ thần học. Việc thụ phong giám mục phải trải qua 3 giai đoạn: đề nghị (hay tiến cử) của giáo dân, giai đoạn tuyên nhiệm (bổ nhiệm) của Giáo hoàng, và cuối cùng là thụ phong.
Công giáo ở Việt Nam
Sự du nhập và phát triển của Công giáo ở Việt Nam
- Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ đào nha, Tây ban nha và sau là Pháp. Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao. Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam. Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác.
- Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam. Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam. Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân.
- Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, chúng luôn lợi dụng Công giáo để xâm lược và duy trì sự thống trị. Chúng luôn lợi dụng Công giáo để chèn ép các tôn giáo khác gây chia rẽ giữa các tín đồ Công giáo với tín đồ các tôn giáo khác hoặc với người không có đạo. Dưới ách thống trị của đế quốc, thực dân, Giáo hội Công giáo được nhiều đặc quyền đặc lợi. Những tổ chức, giáo sĩ theo chúng được ưu đãi. Tuy thế , giáo hội Công giáo ở Việt Nam vẫn bị coi là giáo hội thuộc địa. Có thể thấy điều đó rất rõ sau gần 400 năm truyền đạo vào nước ta, mãi đến năm 1933 mới có một giáo sĩ Việt Nam được phong làm giám mục.
- Do sự thao túng bởi các thế lực bên ngoài, trong cuộc kháng chiến đánh đuổi đế quốc, thực dân giáo hội đã đứng về phía xâm lược. Năm 1951 Hội nghị các giám mục Đông dương đã họp và đã đưa ra thư chung cấm người Công giáo tham gia kháng chiến. Năm 1960, Hội nghị các giám mục miền Nam ra thư mùa chay, nhắc lại thư chung năm 1951 ngăn cản đồng bào Công giáo tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Măïc dù vậy, một bộ phận chức sắc đã dung hoà được quyền lợi của dân tộc với tôn giáo và đông đảo tín đồ với ý thức dân tộc và lòng yêu nước đã đứng về phía kháng chiến và đã đóng góp không chỉ vật chất, tinh thần mà còn cả xương máu cho cách mạng
Tình hình Công giáo hiện nay ở Việt Nam
- Sau 1975, với thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và những tác động của sự chuyển đổi của Công đồng Vaticăng II từ sau năm 1975 Giáo hội Công giáo Việt Nam có nhiều sự biến đổi. Năm 1976, Giáo hoàng phong chức Hồng y đầu tiên cho một Giám mục Việt Nam. Năm 1980, các Giám mục trong cả nước đã họp hội nghị để thống nhất đường lối của giáo hội. Hội nghị đã thành lập Hội đồng giám mục Việt Nam và ra thư chung 1980 với phương châm “sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào”.
- Trong những năm gần đây Công giáo nước ta có chiều hướng phát triển. Số lượng tín đồ tăng do sự gia tăng dân số tự nhiên và một số tín đồ khô đạo, nhạt đạo trở lại sinh hoạt. Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu, hiện nay đang có cuộc sống ổn định và phấn khởi trước cuộc đổi mới và chính sách tôn giáo của Đảng đang chăm lo cải thiện đời sống và tham gia vào các hoạt động xã hội nhân đạo, an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội và thể hiện cuộc sống theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước”.
(ST)

KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN LÀNH - Hà Lê

Tác giả : Hà Lê
KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN LÀNH

Sự ra đời đạoTin lành
Sự phân liệt lần thứ hai của đạo Kitô vào đầu thế kỷ XVI dẫn đến sự ra đời của đạo Tin lành. Cuộc cải cách này gắn liền với tên tuổi hai đại biểu la Máctin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546).
Thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho các cuộc cách mạng tư sản châu Âu. Máctin Luthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của của Công giáo. Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của chúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ... Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới : đạo Tin Lành.
Nói chung về nội dung cơ bản của đạo Tin lành vẫn giữ nguyên như Công giáo nhưng về luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo và cơ cấu tổ chức Giáo hội có nhiều thay đổi, ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng dân chủ tư sản, nhấn mạnh ý chí cá nhân.
Giáo lý cơ bản của đạo Tin lành
- Đạo Tin lành đề cao vị trí của kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo. Lấy kinh thánh làm giáo lý nhưng đạo Tin lành chỉ công nhận 36 trong tổng số 46 cuốn Cựu ước. Khác với Công giáo, đạo Tin lành không coi Kinh thánh là cuốn sách chỉ có một số người (giáo sĩ) được quyền kê cứu, giảng giải mà tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều có quyền sử dụng, nói và làm theo Kinh thánh.
- Đạo Tin lành tin rằng Đức mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm nhưng xem bà không phải là mẹ Thiên chúa và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh ra Chúa. Tin có thiên sứ, các thánh tông đồ, các thánh tử vì đạo và các thánh khác nhưng không sùng bái và thờ lạy họ như trong Công giáo. Tin có Thiên đàng và Địa ngục nhưng không coi trọng đến mức dùng nó làm công cụ để khuyến khích và răn đe, trừng phạt con người.
Nghi lễ của đạo Tin lành
- Nghi lễ đạo Tin lành khá đơn giản. Đạo không thờ tranh ảnh, hình tượng cũng như di vật. Thánh ca trở thành phương tiện diễn đạt hàng đầu. Tín đồ đạo Tin lành chỉ thừa nhận hai bí tích rửa tội và thánh thể song quan niệm và cách tiến hành nghi lễ đó cũng có nhiều nội dung khác với Công giáo.
- Tín đồ Tin lành xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa (Công giáo phải thông qua Linh mục. Khi xưng tội, cầu nguyện tín đồ có thể ở nhà thờ, trước đám đông để sám hối, nói lên ý nguyện một cách công khai.
Tổ chức của đạo Tin lành
- Đạo Tin lành không lập Giáo hội duy nhất mang tính phổ quát cho toàn đạo mà xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau tuỳ theo hệ phái và từng quốc gia. Nhà thờ đạo Tin lành thường có cấu trúc hiện đại nhưng bài trí đơn giản.
- Giáo sỹ đạo Tin lành có hai chức Mục sư và Truyền đạo (Giảng sư). Các giáo sỹ vẫn có gia đình bình thường nhưng họ phải chịu sự kiểm soát của các tín đồ, không có thần quyền và vai trò tuyệt đối đối với các tín đồ.
- Do nghi lễ đơn giản, những tín đồ Tin lành ít bị gò bó vào nghi thức, họ có khả năng “giao thiệp với Chúa”, mặt khác đạo Tin lành quan tâm đến các vấn đề của cuộc sống hàng ngày như khuyên dạy con người sống văn minh, từ bỏ những hủ tục (trong ma chay, cưới xin, cúng lễ…), quy định những điều cấm kỵ như không quan hệ nam nữ bất chính, không có vợ bé, không cờ bạc rượu chè, ma tuý, đánh chửi nhau… và vì thế đạo Tin lành dễ lôi kéo quần chúng theo đạo.
- Đạo Tin lành có một đặc điểm là không chấp nhận điều gì trái với Kinh thánh, không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội… là cái bị coi là khác điều chúa dạy. Vì lẽ đó những thành viên của nhiều dân tộc theo đạo Tin lành bị buộc phải từ bỏ tôn giáo, văn hóa truyền thống của dân tộc minh.

Đạo tin lành ở Việt Nam
Sự du nhập đạo Tin lành vào Việt Nam
- Đạo Tin lành du nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX do tổ chức Tin lành “Liên hiệp phúc âm truyền giáo” (CMA) truyền vào. Năm 1911 tổ chức này đã xây dựng được cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng. Các Hội thánh tin lành được lần lượt được xây dựng tại các địa phương. Năm 1927, Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam được thành lập. Đến năm 1930, một tổ chức thứ hai là Giáo hội Cơ đốc Phục lâm được truyền vào nước ta.
- Tính đến 1954 đạo Tin lành Việt Nam có khoảng 50.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo trong Tổ chức Hội thánh Tin lành Việt Nam và một số nhỏ tín đồ, mục sư truyền đạo trong tổ chức Cơ đốc Phục lâm.
- Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt, đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau: ở miền Bắc, do số đông tín đồ, giáo sĩ đã di cư vào miền Nam và cơ quan Tổng liên hội cũng chuyển vào Sài Gòn nên năm 1955 các tín đồ, mục sư truyền đạo còn ở lại lập nên tổ chức Giáo hội riêng gọi là Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (gọi tắt là Hội thánh Tin lành Miền Bắc) còn tồn tại đến ngày nay với khoảng 10.000 tín đồ. Ở miền Nam, dưới thời Mỹ – Ngụy, Tổng hội Tin lành Việt Nam và các giáo phái nằm trong sự chỉ đạo của các thế lực nước ngoài, nhất là Mỹ. Trong thời gian chiến tranh đạo Tin lành phát triển rộng khắp và đặc biệt chú trọng đến địa bàn Trường Sơn, Tây Nguyên và thường liên quan đến các hoạt động chính trị. Thời kỳ này đạo Tin lành có khoảng 20 hệ phái và các hệ phái này thường tranh giành nhau tín đồ trong đó Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam là phái lớn nhất.
Đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay
- Sau ngày miền Nam giải phóng, cùng với sự ra đi của các giáo sĩ nước ngoài và một bộ phận không nhỏ mục sư truyền đạo và tín đồ, đạo Tin lành giảm hoạt động. Một số giáo phái nhỏ hầu như không hoạt động.
- Trong thời gian gần đây, cùng với trào lưu đổi mới Tổng Liên hội Tin lành đã hoạt động trở lại. Các hệ phái liên hệ với nhau, một số phái ra miền Bắc lợi dụng danh nghĩa hợp pháp của Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam để truyền đạo. Đặc biệt đạo Tin lành chú trọng phục hồi và phát triển ở Tây nguyên, truyền đạo ở các vùng núi phía Bắc trong các đồng bào dân tộc thiểu số với phương pháp truyền đạo khá đa dạng và linh hoạt. Ngoài việc truyền đạo trực tiếp, các Giáo hội Tin lành thường thông qua các hoạt động khoa học, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, đầu tư kinh doanh… tranh thủ cảm tình của quần chúng để truyền đạo, thậm chí còn dùng cả các biện pháp mua chuộc, đe dọa và cưỡng ép vào đạo. Hiện nay một số thế lực phản động trong và ngoài nước đã bịa đặt ra cái gọi là Nhà nước Đềga độc lập và Tin Lành Đềga ở Tây Nguyên nhằm tuyên truyền, kích động cho sự chia rẽ, ly khai.. Nhà nước Việt Nam đã kiên quyết bác bỏ cái gọi là “Nhà nước Đềga độc lập”, coi đây là âm mưu chia rẽ sự toàn vẹn lãnh thổ và gây mất an ninh trật tự của đất nước và khẳng định ở Việt Nam không có cái gọi là đạo Tin Lành Đềga ngoài đạo Tin Lành đã tồn tại ở nước ta trong nhiều năm qua.
(ST)

CÁC TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI

Theo "Bách khoa toàn thư về thế giới" - 1996 :

5 tôn giáo lớn nhất xét về số lượng tín đồ cũng như vai trò trong lịch sử¬:
- Do Thái giáo: 18 thế kỷ trước CN; 20tr người Do Thái (10tr ở Mỹ, 5tr ở Châu Âu, 5tr ở Trung Đông)
- Thiên Chúa giáo: từ CN; hiện tách thành các phái chính là Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo và Anh giáo; Chính thống giáo không công nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng; có 1,7 tỷ tín đồ, trong đó 900 tr là tín đồ Công giáo
- Hồi giáo: thế kỷ thứ 7 sau CN; 900 tr tín đồ, tập trung ở Indonesia, Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, một phần lớn ở Châu Phi, 1/5 ở Ả Rập
- Ấn Độ giáo: 1500 năm trước CN (xuất phát từ Bàlamôn giáo); 650tr tín đồ; phân biệt 4 đẳng cấp
- Phật giáo: thế kỷ 6tr CN; 300 triệu tín đồ khắp Châu Á, chia thành hai phái Đại thừa và Tiểu thừa

Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo có chung một Đấng Sáng tạo duy nhất là Abraham, là tôn giáo của Kinh thánh. Jerusalem là thánh địa của cả Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo




Tổng quát, giáo hội Tin lành và Công giáo khác nhau ở những điều sau:
1. Về những điều nền tảng: bên Tin lành chủ trương:
1/ Tội Tổ tông đã hoàn toàn làm hư hỏng con người,
2/ Thiên Chúa đã tiền định theo số mạng cho một số người được cứu rỗi,
3/ Con đường cứu rỗi là tin vào lời hứa trong Tin lành, không do công phúc cá nhân.

Theo Công giáo:
1. Tội Tổ tông có làm con người hư hỏng: trí khôn ra tối tăm, lòng muốn hướng về tội, phải đau khổ và phải chết, nhưng không "hoàn toàn hư hỏng", vẫn còn nhiều khả năng căn bản: làm lành lánh dữ.
2. Thiên Chúa định đoạt, nhưng con người vẫn có lý trí, có ý muốn "tự do" chọn lành hay dữ, nên sẽ được thưởng hay bị phạt.
3. Phải tin vào Tin lành Phúc âm, nhưng còn phải làm việc để chứng tỏ lòng tin. "Đức Tin không việc làm là đức tin chết" (thư thánh Giacôbê 2,17). Chúa dạy "Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình vác khổ giá mình hàng ngày mà theo"(Luca 9,23). Nói cách khác là phải cố gắng lập công, đền tội khi còn sống. Hơn nữa, Kinh Thánh viết :"Người ta sẽ được trả công tùy theo việc họ làm (sách Khải huyền 22, 12).

2/ Về Kinh thánh (Bible): Kinh thánh là nguồn của đức tin, mỗi người được theo ơn Thánh Thần tự rút ra quan điểm sống.

Theo Công giáo:
Kinh thánh nhiều chỗ rất khó hiểu, giáo dân không bị cấm đọc, nhưng cần được Giáo hội hướng dẫn, chú giải để hiểu đúng Lời Chúa .

3/ Về tôn kính Đức Mẹ Maria: Tin lành coi Đức Mẹ Maria chỉ là dụng cụ Thiên Chúa đã dùng sinh ra Đấng Cứu thế, xong việc là thôi, không có gì phải tôn sùng.
Theo Công giáo:
Không ai yêu mến Đức Mẹ bằng con của Người là Chúa Kitô. Chúa đã sống và vâng phục Mẹ Người 30 năm, chỉ đi giảng đạo 3 năm. Người Công giáo có tôn kính Đức Mẹ thế nào cũng không bằng Chúa Kitô.

4/ Về tôn kính ảnh tượng: bên Tin lành không tôn kính ảnh tượng bất cứ vị nào dù là Chúa Giêsu, Đức Maria hay các thánh, họ cho là Thiên Chúa trong Kinh thánh Cựu ước đã cấm người Do thái.
Theo Công giáo:
Xưa Thiên Chúa cấm người Do thái thờ hình tượng, vì khi tâm trí họ còn thấp kém, Chúa không muốn họ lẫn lộn Chúa với các thần ngoại giáo. Nhưng nay người Công giáo được phép tôn thờ ảnh tượng Chúa Giêsu, vì Chúa đã nhập thể trong hình hài con người. Họ cũng được tôn kính (không thờ) ảnh tượng Đức Maria và các thánh đã hiện diện ở trần gian, nay đang hưởng phúc Thiên đàng, hằng cầu phúc lành cho họ.

5 / Về lãnh các Bí tích, Ông Luther giữ lại 3 Bí tích: Rửa tội, Giải tội, Thánh Thể. Về Rửa tội: Tin lành không Rửa tội cho con trẻ, nếu có, lớn lên phải rửa lại. Về giải tội: ông Luther bỏ việc xưng tội, ông cho rằng, chỉ cần làm tác động "vươn mình lên với Chúa" và khiêm nhường nhận lỗi là xong. Về Thánh Thể: Tin lành không nhận thánh lễ là một Hiến lễ, và không nhận sự "biến bản thể"của bánh rượu nên Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Họ chủ trương bản tính bánh và bản tính Chúa Kitô có đồng thời.
Theo Công giáo:
Tin có 7 Bí tích do Chúa Giêsu lập: Rửa tội (Matthêu 28,18), Thêm sức(Gioan 20, 22), Thánh Thể(Gioan 6,51), Giải tội(Gioan 20,23), Xức dầu(Giacôbê 5,14), Truyền chức(Luca 22,19), Hôn phối(Matthêu 19,6). Mỗi bí tích có mục đích riêng.

6/ Về linh mục độc thân: Đạo Tin lành quan niệm mục sư độc thân là mục sư không hoàn toàn và thiếu quân bình, do đó việc ông Luther lấy vợ đối với họ không có gì là trái nghịch, ngược lại đó chỉ là kiện toàn cuộc sống, bởi vì lấy vợ là "một nhu cầu tự nhiên của con người như ăn uống, khạc nhổ…".
Theo Công giáo:
Noi gương Chúa Kitô là Thầy, các linh mục Công giáo tình nguyện sống độc thân vì nước trời (Matthêu 19,6) để hiến thân trọn vẹn cho Chúa, chăm sóc đoàn chiên được trao phó (Gioan 21, 15-17). Đây là một hi sinh cả cuộc đời, đáng kính phục./



Có điều gì khác biệt giữa Chúa Giê-xu
và các tôn giáo trên thế giới?

Hãy nhìn một cách vắn tắc về những khía cạnh chính thể hiện ra bên ngoài của Chúa Giê-xu, những nét tiêu biểu bình dị tương phản với các tôn giáo trên thế giới.
1. Chúa Cứu Thế Giê-xu theo đuổi một mối quan hệ với chúng ta. Bạn có bao giờ ở trong một mối quan hệ mà trong mối quan hệ đó chính bạn luôn luôn là người chủ động trong mọi việc? Điều này có thể sẽ làm cho bạn mệt nhoài và thường thì nó làm cho bạn rất chán. Những người bạn tốt nhất là những người thích thú khi cùng nhau dành thì giờ cho nhau để đeo đuổi việc duy trì mối quan hệ tình bạn. Không giống như các tôn giáo luôn cố giắng để tìm đến đối tượng mà họ tôn sùng, với Chúa Cứu Thế, bạn thấy Đức Chúa Trời đang đi đến cùng chúng ta. Chúa Giê-xu phán: “các con sẽ có sự sống và là sự sống dư dật (sự sống sung mãn và đầy ý nghĩa)”. Ngài đã đến để ban cho chúng ta sự sống vĩnh phúc với Ngài, cho những ai đã, đang và sẽ tin cậy nơi Ngài.
2. Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời. Không có nhân vật chủ chốt nào của các tôn giáo trên thế giới tuyên bố mình là Đức Chúa Trời.
3. Chúa Giê-xu đã sống một cuộc đời hoàn hảo và bày tỏ thần tính của Ngài trong các phép lạ Ngài từng thực hiện…chữa lành người mù, làm cho cơn bão giữa biển phải lặng yên, làm sống lại người đã chết, ngay lập tức cung cấp thức ăn cho hàng ngàn người. Các tôn giáo trên thế giới có những người lãnh đạo có những sứ điệp nghe thích thú, những không ai trong sô họ có thể thực hiện các phép lạ đầy quyền năng như Chúa Giê-xu đã từng làm. Chúa Giê-xu từng phán: “Hãy tin Ta khi Ta nói Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta; hay ít ra cũng hãy tin những bằng chứng của chính các phép lạ Ta làm”
4. Trong nhiều tôn giáo trên thế giới, vì cớ tội lỗi, người ta tự quất, tự đánh (tự phạt) chính mình hoặc tự thực hiện thật nhiều nghi lễ hiến tế để giải quyết vấn đề tội lỗi của chính họ. Chúa Giê-xu trả giá để cho chúng ta được tha thứ vì Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài đã gánh thay tội lỗi của chúng ta. “ Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính tình yêu của Ngài trong điều này: Trong khi chúng ta còn là tội nhân, Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta” Trên thập tự giá, Chúa Giê-xu mang lấy tất cả tội lỗi của chúng ta cho chúng ta và Ngài đã trả giá cho vấn đề này. Các tôn giáo trên thế giới dạy rằng người ta phải tự làm điều gì đó để giải quyết vấn đề tội lỗi, nhưng Chúa Giê-xu phán chỉ cần đặt đức tin nơi Ngài thì sẽ được cứu rỗi, mọi tội lỗi sẽ được tha thứ, được làm con cái Đức Chúa Trời, được có sự sống đời đời.
5. Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết sau ba ngày Ngàu bị đóng đinh. Có nhiều tôn giáo nói về sự đầu thai hóa kiếp. Chúa Giê-xu, một trường hợp đặc biệt, từng nói trước với nhiều người rằng Ngài sẽ bị đóng đinh và sẽ sống lại sau ba ngày. Chúa Giê-xu muốn công khai chứng tỏ về thần tính của Ngài vượt trên hết bất kỳ sự nghi ngờ nào. Nhà cầm quyền La Mã hiện thời đã nhận thức điều này, và vì thế họ đã ra lệnh cho một đội lính chừng 11 đến 14 người canh gác nghiêm ngặt phía bên ngoài ngôi mộ Chúa Giê-xu, và họ còn niêm phong ngôi mộ với con dấu đầy uy lực của người La Mã cảnh báo mọi người không được đến gần. Thế nhưng, ba ngày sau đó, thân thể Ngài đã ra khỏi mộ và Chúa Giê-xu đã bày tỏ chính Ngài đã sống lại, hiện ra cho hơn 500 người. Không có tôn giáo nào trên thế giới công bố rằng nhân vật trung tâm của họ đã sống lại từ cõi chết hay là thậm chí đã từng nói như vậy.
6. Thông điệp của Kinh Thánh là hiệp nhất. Nó không phải là một bộ sưu tập về thơ ca, những ý kiến rời rạc. Kinh Thánh bày tỏ về Đức Chúa Trời và kế hoạch của Ngài cho cuộc đời chúng ta. Nó ghi lại cho chúng ta có vài điều sai lầm trong quá khứ và rằng mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời đã bị phá vỡ. Kinh Thánh chỉ ra cho chúng ta cách làm thế nào để phục hồi mối quan hệ đó và những ích lợi khi chúng ta làm như vậy. Để tổng họp lại những gì kinh thánh đề cập, xin xem phần này: Nhận biết Đức Chúa Trời cách cá nhân
Trên đây chỉ là một vài điều khác biệt liên quan đến Chúa Cứu Thê Giê-xu. Những thông tin hữu ích khác về các tôn giáo trên thế giới, xin vui lòng xem: Kết Nối Thiên Thượng

(ST)

Làm sao đối đáp với những nhà truyền đạo Công giáo và Tin Lành

CHƯƠNG 8 (*)

Làm sao đối đáp với những nhà truyền đạo Công giáo và Tin Lành

Như là một phần trong nỗ lực truyền đạo hoặc cải đạo, những tín đồ Thiên Chúa giáo thường hỏi Phật tử các câu hỏi để làm cho Phật tử bối rối hay ngã lòng hầu mất niềm tin vào Phật giáo. Chúng ta sẽ xem xét và bình luận vài câu hỏi, đồng thời đưa ra những câu trả lời hữu hiệu của Phật giáo. (SH chú thích: câu hỏi nghiêng màu đỏ là lý luận của các nhà truyền đạo Chúa)

1. Các bạn không tin Chúa Trời vì thế các bạn không thể giải thích được thế giới đã bắt đầu như thế nào

Đúng là Thiên Chúa giáo có một giải thích về vũ trụ đã bắt đầu như thế nào. Nhưng giải thích đó có đúng không? Chúng ta hãy xem xét lời giải thích đó.

Kinh Thánh nói Chúa Trời tạo ra mọi thứ trong sáu ngày và Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Câu chuyện kỳ lạ này chẳng khác gì hơn là một chuyện thần thoại, nên cũng chẳng trung thực hơn chuyện thần thoại của Ấn Độ giáo vốn cho rằng các thần linh đã khuấy sữa lên để tạo dựng mọi thứ, hay chuyện cổ tích cho rằng vũ trụ đã nở ra từ một quả trứng khổng lồ.

Vài đoạn của chuyện sáng tạo thần bí này [của Thiên Chúa giáo] thì hoàn toàn ngớ ngẩn. Ví dụ như Kinh Thánh nói rằng ngày thứ nhất Chúa tạo ánh sáng và bóng tối nhưng tới ngày thứ tư ngài mới tạo ra mặt trời (Gen, 1:15-16). Làm thế nào có ngày và đêm mà không có mặt trời? Chuyện sáng tạo thần bí này còn mâu thuẫn với khoa học hiện đại vốn đã chứng minh vũ trụ bắt đầu như thế nào và cuộc sống tiến hoá như thế nào. Chẳng có một phân khoa thiên văn học hay phân khoa sinh vật học nào ở các đại học trên thế giới giảng dạy về chuyện sáng tạo thần bí này vì một lý do đơn giản là chúng không căn cứ trên sự thật. Vì vậy, tuy Thiên Chúa giáo thực sự có lời giải thích cho mọi sự đã bắt đầu như thế nào (giống như hầu hết các tôn giáo khác cũng đã tìm cách giải thích) nhưng giải thích đó chỉ là thần thoại mà thôi.

Thế thì Phật giáo nói về mọi sự đã bắt đầu như thế nào? Phật giáo ít nói về chủ đề này và vì một lý do đúng đắn. Mục đích của Phật giáo là phát huy trí tuệ và tình thương và do đó, có thể tiến đến Niết bàn. Biết về vũ trụ bắt đầu như thế nào chẳng đóng góp gì vào quá trình này cả. Có lần, một người đã yêu cầu Đức Phật nói cho y biết vũ trụ bắt đầu như thế nào. Đức Phật bảo người đó:

“Ngươi như kẻ đã bị tên độc bắn, và khi thầy thuốc đến để lấy mũi tên ra ngươi bèn hỏi ‘Khoan! trước khi lấy mũi tên ra, tôi muốn biết tên người đã bắn nó là ai, họ đến từ bộ lạc nào, sinh ra ở làng nào. Tôi muốn biết loại gỗ làm ra cây cung đó, lông trên mủi tên là lông gì, những mủi tên dài bao nhiêu v.v. và v.v.’ Người đàn ông đó sẽ chết trước khi các câu hỏi được trả lời. Công việc của ta là giúp ngươi lấy mủi tên đau khổ ra khỏi cơ thể ngươi (Majjhima Nikaya, kinh số 63).

Phật giáo tập trung giúp đỡ chúng ta giải quyết các vấn đề thực tế của cuộc sống – không cổ vũ các suy đoán vu vơ. Và nếu một Phật tử muốn biết vũ trụ bắt đầu như thế nào và khi nào thì hãy đi hỏi các nhà khoa học.

2. Phật giáo không thực tế vì bảo bạn dù một con kiến cũng không được giết

Trước khi bênh vực cho việc cáo buộc Phật giáo không thực tế, chúng ta hãy xem Thiên Chúa giáo liệu có thực tế không. Theo Giê-su thì nếu ai tát má chúng ta, chúng ta phải chìa má bên kia để họ tát tiếp (Matt, 5;25). Nếu chúng ta phát hiện ai lấy cắp cái quần của chúng ta thì chúng ta ra đưa nốt cho kẻ trộm cái áo của chúng ta (Matt, 5:40). Nếu chúng ta không ngăn chận được ý muốn trộm cắp đồ đạc của người khác thì chúng ta phải chặt tay chúng ta (Matt, 5:30). Chúng ta có thể cho những lời dạy dỗ này là thiếu thực tế, tuy nhiên những tín đồ Thiên Chúa giáo thì lại thích gọi đó là những thử thách. Và dĩ nhiên là họ đúng khi bảo chỉ là những thử thách. Đưa má bên kia khi người ta tát vào má mình thật không phải dễ. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải kiềm chế giận dữ và khi làm được như thế, chúng ta phát huy được tính kiên nhẫn, tính khiêm nhường, thói quen không trả đũa và lòng yêu thương. Nếu chúng ta không được thử thách thì chúng ta chẳng bao giờ trưởng thành.

Đức Phật yêu cầu chúng ta tôn trọng mọi sự sống, dù cho chúng là những sinh vật thấp hèn. Cũng như việc chìa má bên kia, điều đó không phải luôn luôn dễ làm. Như đối với một số người, những sinh vật như kiến cũng có thể làm ta khó chịu phiền phức. Khi chúng ta chấp nhận không giết chóc và cố tu tập, chúng ta đã chấp nhận thử thách để phát huy kiên nhẫn, khiêm nhường, tình thương v.v… Như vậy, khi Phật giáo đòi hỏi chúng ta tôn trọng sự sống, Phật giáo cũng chẳng “không thực tế” gì hơn Thiên Chúa giáo sao ?

3. Đức Phật đã chết nên Ngài không thể giúp gì được chúng ta cả.

Phật tử đôi lúc khó trả lời một cách hiệu quả khi tín đồ Thiên Chúa giáo hỏi họ câu này. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu rõ Phật Pháp thì chúng ta sẽ dễ dàng bác bẻ điều này bởi vì, cũng giống như mọi khẳng định khác của tín đồ Thiên Chúa giáo về Phật giáo, họ đã căn cứ trên những hiểu lầm về Phật giáo.

Trước tiên, Đức Phật không chết. Ngài đã đạt đến cõi Niết bàn, một trạng thái vô cùng an lạc và giải thoát. Đức Phật đã gọi một tên khác của Níêt bàn là Trạng Thái Bất Tử (Amata) bởi vì khi con người đạt đến trạng thái đó thì họ chẳng còn lệ thuộc vào sinh tử nữa. Dĩ nhiên Niết bàn không phải là “cuộc sống vĩnh hằng” thô thiển mô tả trong Kinh Thánh, với xác chết được hồi sinh và thiên thần suốt ngày ca hát. Thật ra trạng thái nầy rất vi diệu và không dễ mô tả. Tuy nhiên, nó không phải là một trạng thái phi hiện thực như Đức Phật đã từng giảng rõ ràng (Majjhima Nikaya, kinh số 72 và Sutta Nipata, câu 1076).

Cũng tương tự như thế, nói rằng Đức Phật không thể giúp đỡ chúng ta là nói không đúng. Trong suốt bốn mươi năm hành đạo của Ngài, Đức Phật đã giảng giải thật chi tiết và rất rõ ràng mọi thứ chúng ta cần làm để đạt được Niết bàn. Chúng ta cần làm theo chỉ dẫn của Ngài là quá đủ rồi. Những lời dạy của Ngài thì hữu ích và có giá trị ngày hôm nay cũng như hữu ích và có giá trị trong lần đầu Ngài giảng giải chúng. Tất nhiên, Đức Phật không giúp đỡ chúng ta giống cách thức tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định kiểu Giê-su giúp họ, và vì một lý do rất đúng đắn. Nếu một học sinh biết rằng mình có thể hỏi thầy giáo các đáp án về câu hỏi trong kỳ thi thì học sinh này sẽ chẳng bao giờ chịu tự mình nghiên cứu gì cả, và hậu quả là chẳng bao giờ học sinh đó học được gì. Nếu một lực sĩ biết chỉ cần xin xỏ vị trọng tài để ông ta trao giải thưởng cho mình, thì lực sĩ nọ sẽ chẵng hề bận tâm đến chuyện rèn luyện và phát triển cơ thể. Cứ đơn giản cho người ta mọi thứ họ đòi hỏi thì đó không phải là giúp họ. Làm như thế, thực ra, còn chắc chắn làm cho họ duy trì sự yếu đuối, thói quen phụ thuộc vào người khác và tính luời biếng.

Đức Phật chỉ cho chúng ta đường đi đến Niết bàn và bảo chúng ta những thứ dự phòng mà chúng ta sẽ cần trong cuộc hành trình đó. Trong khi đăng trình, chúng ta sẽ học hỏi từ những kinh nghiệm và sai lầm của chúng ta, phát huy sức mạnh, sự chính chắn và khôn ngoan. Do đó, khi chúng ta hoàn tất cuộc hành trình, chúng ta hoàn toàn khác với con người của chúng ta lúc bắt đầu. Do sự giúp đỡ khôn khéo của Đức Phật chúng ta sẽ ngộ đạo.

Bảo rằng Đức Phật chết và không thể giúp đỡ các bạn thì không những chỉ sai lầm mà còn gợi ý về một sự tương phản, rằng Giê-su thì còn sống và có thể giúp đỡ các bạn.

Chúng ta hãy xem xét hai giả định này. Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định Giê-su còn sống nhưng chứng cớ ở đâu về điều này ? Họ sẽ bảo Kinh Thánh chứng tỏ rằng Giê-su sống dậy từ cái chết. Đáng tiếc rằng những phát biểu này thì chỉ được một ít người viết ra cách đây hàng ngàn năm trước và chẳng chứng tỏ được điều gì cả. Một tuyên bố trong kinh Mahabharata (một trong những kinh sách của Ấn Độ giáo) nói rằng một vị thánh có chiếc xe bay được. Nhưng lời tuyên bố này, dù đến từ bộ kinh thiêng liêng của Ấn Độ giáo, có chứng minh được rằng người Ấn Độ cổ đã phát minh ra máy bay không? Tất nhiên là không. Bản kinh cổ Ai Cập nói rằng thần Khnum sáng tạo mọi thứ bằng đất sét khi ngài nắn trên bàn xoay. Điều này có chứng minh được rằng mọi thứ hiện hữu hôm nay đều làm bằng bùn không? Dĩ nhiên là không. Một đoạn trong Cựu Ước bảo một người tên Balaam có con lừa biết nói. Liệu đó có phải là bằng chứng để kết luận rằng loài thú có thể nói tiếng người không? Dĩ nhiên là không.

Chúng ta không thể chấp nhận một cách thiếu phê phán các khẳng định trong Kinh Thánh ít hơn chấp nhận không phê phán những khẳng định trong các kinh sách khác. Khi chúng ta xem xét khẳng định trong Kinh Thánh rằng Giê-su được cho là phục sinh, chúng ta có đủ lý do để biết tại sao chúng ta không thể tin những chuyện đó (xem chưong 5, mục Phục sinh). Ngược lại là khác, chính Kinh Thánh đã thực sự chứng minh rằng Giê-su không còn sống. Ngay trước khi bị đóng đinh, Giê-su bảo các tông đồ của Ngài rằng Ngài sẽ quay trở lại trước khi người cuối cùng trong bọn họ chết đi (Matt, 10:23, Matt, 16:28 và Lk, 21:32). [“Người cuối cùng trong bọn họ” của thời đại Giê-su đã “chết đi” rồi], thế mà đã hơn 2000 năm trôi qua mà Giê-su vẫn chưa trở lại. Tại sao? Rõ ràng vì Ngài đã chết.

Giả định thứ hai là Giê-su luôn luôn đáp ứng khi các bạn cầu nguyện Ngài. Rất dễ chứng minh điều đó là không thật. Tín đồ Thiên Chúa giáo cũng chết vì bệnh tật, cũng đau khổ vì bất hạnh, cũng khó khăn về tình cảm, cũng sa vào cám dỗ v.v. như những tín đồ đạo khác dù họ đã nhiệt tình cầu nguyện Giê-su cứu giúp. Tôi có một người bạn từng là tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo nhiều năm. Dần dà anh ta nghi ngờ và yêu cầu mục sư của anh giúp đỡ. Vị mục sư hướng dẫn anh cầu nguyện và ngay cả toàn xứ đạo cũng cầu nguyện cho anh. Mặc cho những cầu nguyện xin thêm sức mạnh và ơn hướng dẫn, nghi ngờ của anh ta vẫn tăng lên và rốt cuộc anh ta rời bỏ giáo hội. Sau này anh ta trở thành một Phật tử. Nếu Giê-su còn sống và sẵn sàng cứu giúp thì tại sao tín đồ Thiên Chúa giáo cũng có nhiều vấn đề như những người theo đạo khác? Tại sao Giê-su đã không đáp ứng những cầu nguyện của bạn tôi và giúp anh ta vẫn giữ mình là một tín đồ Thiên Chúa giáo? Rõ ràng Ngài đã chết và chẳng thể cứu giúp gì được nữa.

Trả lời cho phản bác này, tín đồ Thiên Chúa giáo luôn luôn nói rằng họ có những người có thể chứng thực rằng những cầu nguyện của họ đã được đáp ứng. Nếu điều này là đúng, thì cũng đúng cả với tín đồ Hồi giáo, Lão giáo, đạo Sikhs, Ấn độ giáo, Do Thái giáo và những người sùng bái vật tổ vì họ cũng có thể nói điều tương tự. Khi tôi ở nước Ghana, tôi có viếng thăm đền thờ của một bộ lạc thờ cúng một vị thần của bộ lạc đó. Dân làng cầu nguyện và hứa sẽ cúng một tượng bằng đất sét cho thần nếu lời cầu xin của họ được toại nguyện. Có cả ngàn tượng đất sét như thế trong ngôi đền chứng tỏ cả ngàn lời cầu xin đã được toại nguyện.

4. Phật tử thờ cúng những ngẫu tượng vô hồn

Đây là một lời vu khống mà tín đồ Tin Lành thường hay ném vào Phật giáo và những tôn giáo khác. Dĩ nhiên là Phật tử không thờ ngẫu tượng, họ thờ tượng Phật như một biểu tượng và như một điểm tập trung giống như tín đồ Tin Lành tôn thờ cái thánh giá vậy. Đối với tín đồ Thiên Chúa giáo, sự sùng bái thần tượng là “một khát khao quá mức được dùng một vật, người, định chế hay ý thức hệ như một đối tượng của sự quan tâm và tình cảm rốt ráo nhất của con người” và tín đồ Tin Lành chống lại sự sùng bái nầy vì “Thiên Chúa thì không thể chứa đựng trong những hình thức do con người tạo ra” (Saving the Appearance, a Study of Idolatry, O. Narfield, 1957). Nhưng trong khi tín đồ Thiên Chúa giáo bảo thủ mau mắn kết án tất cả người nào sùng bái thần tượng thì chính nhiều người trong họ cũng đã sùng bái ngôn từ không kém. Đó chẳng phải là khi vị mục sư giơ cao cuốn Kinh Thánh và đọc to lời cầu nguyện sao ? Đó chẳng phải là khi họ ban ơn thánh bằng cách để Kinh Thánh trên đầu người bệnh sao ? Họ lên án người khác đã “chứa đựng Thiên Chúa trong những hình thức do con người làm ra” còn họ thì chứa đựng ngài trong ngôn từ - những ngôn từ khô cằn, bụi bặm mà họ rao giảng ngược xuôi gì cũng được, rồi lúc nào cũng trích dẫn như một câu thần chú. Nếu người khác thờ phụng gỗ và đá thì tín đồ Thiên Chúa giáo bảo thủ thờ phụng giấy và mực [của cuốn Kinh Thánh].

Nhưng ngoài chuyện đó ra, có gì sai khi hiển thị Thiên Chúa dưới dạng con người ? Đó chẳng phải là điều mà Thiên Chúa đã làm khi Ngài xuống thế thông qua Giê-su – mang trên mình thể chất con người, và mang vóc dáng vật chất ? Và khi một người đàn bà xức dầu thơm cho Giê-su thì có phải người đàn bà đó đã thờ phụng Chúa qua thân xác Giê-su không ? Và có phải chính Giê-su đã khen ngợi người đàn bà nầy không ? (Matt, 26:6)

5. Không như Thiên Chúa giáo, Phật giáo quá yếm thế

Theo tự điển Webster, yếm thế là “tin rằng cuộc sống có nhiều điều xấu hơn điều tốt”. Thật là thú vị khi tín đồ Thiên Chúa giáo lại cáo buộc Phật giáo thì yếm thế, tại vì ý niệm rằng cái xấu tràn lan nhiều hơn cái tốt lại là một trong những học thuyết trung tâm của Thiên Chúa giáo. Hai trong những trích dẫn được ưa chuộng của họ trong Kinh Thánh là: “Tất cả đều có tội, tất cả đều chẳng bao giờ với tới được vinh quang của Chúa Trời”(Rom, 3:10) và “Chắc chắn chẳng có một người ngay thẳng nào trên thế gian nầy chỉ làm điều tốt và chẳng bao giờ phạm tội” (Ecc, 7:20). Học thuyết Tội Nguyên Thuỷ dạy rằng mọi người đều là kẻ tội lỗi, không thể nào giải thoát ra khỏi tội lỗi của họ, và cái xấu trong chúng ta thì mạnh hơn cái tốt (Rom 7:14-24).

Tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nói rằng dù đấy là sự thực, chúng ta vẫn có thể thoát ra khỏi tội lỗi nếu chúng ta chấp nhận Giê-su. Có thể như thế thật, nhưng rồi họ vẫn cứ ở trong cảnh ngộ của tín đồ Thiên Chúa giáo cần đến Giê-su bởi vì quan điểm của họ về bản chất con người là cực kỳ yếm thế.

Phật giáo ngược lại có một quan điểm rất khác, nếu không nói là thực tiễn hơn, về bản chất con người. Trong lúc nhận thức rằng khả năng phạm điều xấu vốn tiềm tàng nơi con người, Phật giáo dạy rằng chúng ta có thể chế ngự cái xấu và phát huy cái tốt thông qua nỗ lực của chúng ta.

Từ bỏ cái xấu! Người ta có thể từ bỏ cái xấu! Nếu không thể bỏ cái xấu, ta sẽ không yêu cầu các người làm chuyện đó. Nhưng vì các ngươi có thể làm được điều đó, nên ta nói, “Hãy từ bỏ cái xấu!”

Trau dồi cái tốt! Người ta có thể trau dồi cái tốt! Nếu không thể trau dồi cái tốt, ta sẽ không yêu cầu các người làm chuyện đó. Nhưng vì các ngươi có thể làm được điều đó, nên ta nói, “ Hãy trau dồi cái tốt” (Anguttara Nikaya, Book of Ones).

Dù có đồng ý với niềm tin này hay không, chắc chắn người ta không thể nói niềm tin đó là yếm thế được.

6. Giê-su dạy chúng ta yêu thương nhưng Phật giáo khuyến khích chúng ta lạnh nhạt và buông xả

Điều này không đúng. Đức Phật dạy chúng ta phải phát huy một tình thương chăm sóc nồng ấm đối với mọi người.

Cũng như một người mẹ sẽ bảo vệ đứa con độc nhất dù có hiểm nguy tới mạng sống của mình, và còn hơn thế, ngươi phải vun đắp một tình thương vô điều kiện với tất cả mọi loài. (Sutta Nipata, câu thơ số 150)

Trong mọi ý nghĩa, tình thương là quan trọng trong Phật giáo cũng như trong Thiên Chúa giáo, và cũng được nhấn mạnh rất nhiều như nhau. Tuy nhiên, có cái gì đó đã làm hư đốn tín đồ Thiên Chúa giáo trong việc thực hiện tình thương. Họ cứ lớn tiếng khăng khăng rằng chỉ có họ mới yêu thương, rằng phẩm chất yêu thương của họ cao hơn của kẻ khác, và họ liên tục làm giảm uy tín và bôi nhọ nỗ lực của kẻ khác đang thể hiện tình thương, nhưng điều đó đã làm cho họ gây ác cảm nơi người khác. Một vài tín đồ Thiên Chúa giáo vì quá nhỏ mọn và ganh tỵ nên họ không thể tán dương hay đánh giá cao một phẩm chất tốt đẹp như tình thưong, trừ khi có “mác Giê-su” đóng lên đó.

7. Không giống như Phật giáo, Thiên Chúa giáo là một tôn giáo của tình thương. Kinh Thánh viết: “Vì Chúa Trời quá yêu thương thế gian nên Ngài đã ban cho loài người con một của Ngài để loài người khỏi chết và có sự sống đời đời”

Đây là một câu tuyên bố rất đẹp, nhưng với những người có đầu óc thì câu nầy chỉ làm rõ thêm những giới hạn và bất cập của tình thương của Thiên Chúa. Nếu Chúa quá yêu thương con người sao Chúa không đơn giản tha tội cho họ ? Như vậy tất cả mọi người đều được cứu rỗi và Giê-su không cần phải xuống thế để bị tra tấn và hành hình nữa. Nếu Chúa quá yêu thương con người sao Chúa không phái Giê-su xuống nhiều lần để cứu càng nhiều người càng tốt ? Nếu Chúa quá yêu thương con người sao Chúa không trừ bỏ bệnh tật, thiên tai, nghèo đói và cho phép con người được sống trong hòa bình và hạnh phúc ? Nếu Chúa quá yêu thương con người sao Chúa không bắt cơn sóng thần Tsunami ngừng lại, hay ít nhất cũng báo trước cho mọi người biết chuyện gì sẽ xảy ra ?

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng kẻ có tội và người phi-Thiên Chúa giáo sẽ bị đày xuống Địa ngục đời đời. Nếu Chúa quá yêu thương con người sao Chúa không phạt họ vài thế kỷ thôi cũng được, rồi tha thứ cho họ để họ được lên Thiên đàng mà lại đày họ đời đời ? Nếu khả năng tha thứ của Chúa có giới hạn như thế thì khả năng yêu thương của Chúa cũng có giới hạn vậy.

8. Bạn khẳng định rằng khi chết chúng ta tái sinh, nhưng không có bằng chứng nào cả về chuyện này

Trước khi trả lời điều này chúng ta hãy xem xét lý thuyết về thế giới bên kia của cả Thiên Chúa giáo lẫn Phật giáo.

Theo Thiên Chúa giáo, Chúa Trời tạo ra một linh hồn mới mỗi khi người mẹ thụ thai một em bé để sống trọn đời mình, rồi chết đi. Sau khi chết, linh hồn sẽ vào thiên đàng vĩnh viễn nếu trước đó tin vào Giê-su, hay sa vào hỏa ngục đời đời nếu trước đó không tin vào Giê-su.

Theo Phật giáo, ta không thể truy tìm được sự khởi đầu tối thượng của sự sống. Mỗi chúng sinh sẽ sống cuộc sống của mình, chết đi và tái sinh vào một sự sống mới. Đây là một quá trình tự nhiên về cái chết và sự tái sinh, và sẽ tiếp diển mãi mãi trừ khi chúng sinh đó đạt được Niết bàn. Khi một chúng sinh đạt được Niết bàn trong một cuộc sống nào đó thì nhờ có trí huệ nên hành xử của chúng sinh đó biến đổi. Và sự biến đổi nầy sẽ làm thay đổi quá trình gây ra chu kỳ tái sinh. Vì thế, thay vì khi chết phải tái sinh vào một quốc độ mới [trong lục đạo], chúng sinh đạt được Vô dư Niết bàn. Niết bàn không phải là một hiện sinh (hiện sinh là phản ứng khi bị kích thích, là tăng trưởng và tàn lụi, là chuyển động trong thời gian và không gian, là kinh nghiệm về mình như là một bản ngã tách biệt, v.v.) và Niết bàn cũng không phải là một phi-hiện sinh, nghĩa là hư vô. Nói cách khác, hiện hữu của mỗi chúng sinh thì không có khởi đầu và không có kết thúc [vô thủy vô chung], trừ khi đạt đến Niết bàn. Và cho đến lúc đó, sự hiện hữu của chúng sinh chẳng có mục đích nào hơn là trôi lăn trong lục đạo [theo nghiệp lực của mình].

Rất it có chứng cớ để kiểm chứng cả hai thuyết này xem cái nào đúng cái nào sai. Tuy nhiên, trong thuyết Thiên Chúa giáo, ta thấy có nhiều vấn đề lý luận và đạo đức mà thuyết của Phật giáo không vướng phải, do đó đã làm cho thuyết của Phật giáo dễ chấp nhận nhiều hơn. Trong khi Thiên Chúa giáo thấy sự sống có khởi đầu nhưng không có kết thúc thì Phật giáo lại thấy đó là một sự tuần hoàn.

Thiên nhiên không cung cấp cho ta một ví dụ nào về một tiến trình có khởi đầu mà không có kết thúc cả. Ngược lại, mọi tiến trình thiên nhiên mà chúng ta quan sát đều có tính tuần hoàn. Các mùa ra đi rồi năm sau quay lại. Mưa rơi xuống, chảy ra biển, bốc hơi, rồi tạo thành mây để lại rơi xuống thành mưa. Cơ thể được tạo thành bởi nhiều yếu tố mà chúng ta tiêu hoá như thực phẩm; rồi khi chúng ta chết, cơ thể phân hoá và phóng thích các yếu tố vào đất, ở đó cây cỏ thú vật hấp thụ rồi chúng ta lại ăn chúng để tạo ra cơ thể. Các hành tinh chạy vòng quanh mặt trời và thậm chí giải thiên hà chứa hệ thống mặt trời chúng ta cũng xoay vòng. Lý thuyết Phật giáo về tái sinh thì hoà hợp ăn khớp với các quá trình tuần hoàn này mà chúng ta thấy qua thiên nhiên, trong lúc lý thuyết của Thiên Chúa giáo thì không.

Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng Chúa Trời tạo dựng ra chúng ta vì một mục đích – vì thế chúng ta có thể tin tưởng vào Ngài, vâng lời Ngài và được cứu rỗi. Nếu đúng như vậy thì thật khó giải thích tại sao, hàng năm, hàng triệu bào thai bị hủy diệt, và hàng triệu trẻ sơ sinh chết ngay hoặc chết trong hai năm đầu đời. Ngoài ra, có hàng triệu người sinh ra và sống trọn cuộc đời trí óc đần độn nghiêm trọng, không thể suy nghĩ dù những suy nghĩ đơn giản nhất. Làm sao tất cả những người đó thì thích hợp với kế hoạch đã định của Chúa Trời? Chúa Trời có mục đích gì khi sáng tạo ra một cuộc sống mới và rồi để nó chết đi, thậm chí còn cho chết đi trước khi hay ngay sau khi mới sinh? Và điều gì xảy ra cho các sinh linh đó? Họ đi lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục? Nếu thực sự Chúa Trời tạo ra chúng ta với một kế hoạch trong đầu, chắc chắn kế hoạch đó không rõ ràng rành mạch. Lại nữa, vì đa số người trên thế giới không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo và vì không phải tín đồ Thiên Chúa giáo nào cũng sẽ được cứu rỗi, nên chắc chắn một tỷ lệ rất lớn các linh hồn mà Chúa Trời tạo ra sẽ đi vào Hỏa ngục. Kế hoạch cứu rỗi mọi người có vẻ như đi lệch trầm trọng. Vì thế, mặc dù chúng ta không thể chứng minh được lý thuyết bên kia thế giới của Thiên Chúa giáo và Phật giáo cái nào đúng, nhưng học thuyết của Phật giáo thì quyến rũ và dễ chấp nhận hơn.

9. Nếu chúng ta thực sự tái sinh, bạn giải thích thế nào về sự gia tăng dân số trên thế giới?

Khi chúng sanh chết đi, chúng sanh sẽ tái sinh nhưng không nhất thiết tái sinh thành cùng chủng loại. Ví dụ, con người có thể tái sinh thành ngưòi, thành thú, thậm chí thành một cá thể trên trời, tuỳ theo nghiệp của họ. Tình trạng gia tăng dân số đáng kể trên thế giới chỉ ra rằng nhiều thú vật, hay chủng loại trong các quốc độ khác, đã tái sinh thành người (có thể có một sự hạ giảm tương ứng với số lượng thú vật vì tuyệt chủng v.v.) và nhiều chúng sanh tái sinh làm người trở lại. Tại sao lại như vậy? Đúng là tại sao nhiều thú vật tái sinh thành người thật là khó nói. Nhưng lý do tại sao nhiều người tái sinh thành người thì không đáng nghi ngờ vì sự hiểu biết về giáo lý Phật giáo đã lan rộng. Ngay cả những nơi mà Phật Pháp không được thấu biết rộng rãi thì khả năng tạo ra ảnh hưởng tinh tế về điều thiện của Phật Pháp cũng đủ mạnh mẽ để làm con người sống thiện lành hơn. Tất cả những điều này giải thích cho sự gia tăng dân số.

10. Niết bàn là một mục tiêu không thực tiễn vì mất quá lâu để đạt được và rất ít người đạt được

Đúng là để đạt đến Niết bàn có thể phải rất lâu, nhưng mặt khác, sự tái sinh cho chúng ta nhiều thời gian và cơ hội. Nếu người ta không thực hiện được điều đó trong kiếp sống này, người ta có thể tiếp tục phấn đấu trong kiếp sống khác. Thực ra, nó có thể kéo dài đến chừng nào người ta muốn. Đức Phật nói nếu người ta thực sự muốn, người ta có thễ đạt đến Niết bàn trong vòng bảy ngày (Majjhima Nikaya, kinh số 10). Nếu như thế, tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ hỏi, tại sao tất cả Phật tử đã không đạt đến đó? Vì một lý do đơn giản là cõi trần nầy vẫn duy trì một sự hấp dẫn lôi cuốn họ. Khi mà nội chứng và trí tuệ dần dần làm cho sự hấp dẫn đó bị phai nhạt thì con người sẽ từng bước, bằng chính bước chân của mình, đến được Niết bàn. Còn như khẳng định rằng chỉ một số ít đạt đến Niết bàn là không đúng. Trong khi ở Thiên Chúa giáo, một ngưòi có, và chỉ có, một cơ hội được cứu rỗi, thì giáo lý Phật giáo về tái sinh cho một người vô số cơ hội để đạt đến Niết bàn. Điều này gợi ý rằng rốt cuộc mọi người đều sẽ đuợc giải thoát. Như trong đoạn kinh Phật sau đây:

Nhiều người đã đạt được trạng thái bất tử này, và ngay hôm nay vẫn còn có thể đạt được cho những ai chịu nỗ lực. Nhưng sẽ không đạt được đối với những ai không chịu phấn đấu (Therigatha, câu thơ số 513).

11. Trong Thiên Chúa giáo, lịch sử mang một ý nghĩa và lịch sử đang tiến đến một mục tiêu đặc thù nào đó. Quan niệm tuần hoàn về sinh tồn của Phật giáo có nghĩa là lịch sử chẳng có ý nghĩa gì và điều này làm cho Phật tử phó thác vào định mệnh và thờ ơ với cuộc sống.

Đúng là theo Phật giáo thì lịch sử không tiến đến bất cứ một đỉnh cao nào đó. Nhưng những người đang đi trên con đường Bát Chánh Đạo thì đang tiến đến một cực điểm. Họ chắc chắn đang tiến đến an lạc và giải thoát của Niết bàn.

Như dòng sông Hằng trôi chảy về hướng đông, ai trau dồi và tu tập Bát Chánh Đạo cũng sẽ trôi chảy về hướng Niết bàn (Samyutta Nikaya, Great Chapter, kinh số 67)

Vì thế, thật là không đúng khi nói rằng quan điểm thực tiễn hơn về sự sống và về lịch sử của Phật giáo lại nhất thiết dẫn đến sự thờ ơ. Còn theo Thiên Chúa giáo thì lịch sử sẽ hướng đến cực điểm nào ? Đến sự Khải Huyền (Apocalypse), nơi phần lớn nhân loại và sản phẩm của con người sẽ bị phá huỷ bằng lưu huỳnh và lửa. Ngay cả một số ít may mắn được cứu rỗi cũng sẽ phải sống trong một viễn cảnh u ám về một thiên đàng vĩnh cửu mà biết rằng một số bà con và bạn bè của họ, cùng lúc đó, đang bị trừng phạt đau đớn dưới hoả ngục. Sẽ thật khó tưởng tượng được một tương lai chán nản hơn khi cứ phải ngồi hướng vọng về điều này.

12. Nếu Phật giáo là một tôn giáo tốt lành, vậy tại sao Phật giáo lại tàn lụi ở Ấn Độ là đất nước đã khai sinh ra Phật giáo ?

Ta cũng có thể hỏi câu hỏi nầy cho trường hợp của Thiên Chúa giáo: “Nếu lời dạy của Giê-su tốt lành, vậy tại sao Thiên Chúa giáo lại chỉ là một tôn giáo rất thiểu số tại Do Thái, Palestine và Thỗ Nhĩ Kỳ, là vùng đất khai sinh ra Thiên Chúa giáo ?”. Thậm chí chúng ta còn có thể hỏi thêm rằng “Nếu Giê-su là Hoàng tử của Hòa bình, tại sao vùng Do Thái và Palestine lại là vùng chiến tranh dữ dội nhất trên thế giới ?”. Dĩ nhiên là tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ trả lời tại vì thời đại thay đổi, tại vì Hồi giáo tiến triển nên nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo trong vùng Trung Đông đã cải đạo và làm cho Thiên Chúa giáo gần như bị biến mất.

Hiện tượng nầy thì cũng đã xảy ra cho Phật giáo tại Ấn Độ. Vì những lý do chính trị, kinh tế và xã hội phức tạp, nhiều Phật tử Ấn Độ đã trở thành tín đồ Ấn Độ giáo. Sự kiện Phật giáo biến mất ở Ấn Độ không chứng tỏ rằng Phật giáo thì bất cập cũng như trường hợp Thiên Chúa giáo tại Trung Đông vậy.

13. Phật giáo sao chép ý niệm nghiệp và tái sinh từ Ấn Độ giáo

Ấn Độ giáo có giảng dạy một học thuyết về nghiệp và luân hồi. Tuy nhiên, nôi dung giáo lý của Ấn Độ giáo về cả hai điều này thì rất khác với Phật giáo. Ví dụ, Ấn độ giáo nói rằng chúng ta bị định đoạt theo nghiệp của chúng ta, trong lúc Phật giáo nói nghiệp thì chỉ trui rèn chúng ta. Theo Ấn độ giáo, một linh hồn bất diệt (atman) chuyển dịch từ một cuộc sống nầy đến cuộc sống khác, trong lúc Phật giáo từ chối rằng có một linh hồn (anatman) mà đúng ra, chỉ là một luồng năng luợng tâm linh luôn luôn biến đổi và sẽ được tái sinh. Đấy chỉ là hai trong nhiều khác biệt giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo về nghiệp và tái sinh.

Tuy nhiên, ngay cả nếu giáo lý Phật giáo và Ấn Độ giáo có giống nhau chăng nữa thì điều này không nhất thiết có nghĩa là Phật giáo sao chép không suy nghĩ ý tưởng của kẻ khác. Nhiều lúc hai người, hoàn toàn độc lập với nhau, cùng khám phá một điều hoàn toàn giống nhau. Một ví dụ điển hình là sự khám phá về thuyết tiến hoá. Vào năm 1858, ngay trước lúc ấn hành cuốn sách nổi tiếng Về Nguồn gốc của Các chủng loại, Charles Darwin phát hiện có một người khác, Alfred Russell Wallace, đã nhận thức ra ý tưởng về tiến hoá giống y như ông. Hai ông Darwin và Wallace chẳng sao chép ý tưởng của nhau mà đúng hơn là bằng nghiên cứu cùng một hiện tượng họ cùng đi đến một kết luận hoàn toàn độc lập với nhau. Vì thế, dù những ý tưởng về nghiệp và tái sinh của Ấn Độ giáo có giống với Phật giáo chăng nữa (thật ra thì không giống) thì điều này cũng không phải là bằng chứng của sao chép. Sự thật là các nhà hiền triết Ấn Độ giáo, qua nội quán trong lúc quán tưởng, đã có được vài ý tưởng mơ hồ về nghiệp và tái sinh, hai điều mà Đức Phật sau này đã chiết giải đầy đủ và chính xác hơn.

14. Giê-su tha thứ tội lỗi của chúng tôi, nhưng Phật giáo nói bạn chẳng bao giờ thoát khỏi hậu quả của nghiệp do bạn gây ra.

Nói rằng Giê-su tha thứ tội lỗi thì chỉ mới đúng có một phần. Theo Thiên Chúa giáo, sau khi con người được tạo ra, họ sẽ được sống mãi mãi - đầu tiên là vài thập kỷ trên trần gian rồi sau đó sống vĩnh viễn hoặc trên thiên đàng hoặc dưới địa ngục. Giê-su sẽ tha thứ tội lỗi của con người chỉ trong thời gian họ còn sống trên thế gian nầy mà thôi, nhưng thời gian còn lại trong cuộc sống đời đời (dưới địa ngục chẳng hạn) Ngài sẽ từ chối không tha thứ nữa, dù các linh hồn trong địa ngục có kêu gọi tên Ngài thường xuyên và đau đớn thế nào đi nữa. Vì thế sự tha thứ của Giê-su chỉ hạn chế trong thời gian ngắn ngủi của cuộc sống vài chục năm của con người, sau đó Ngài sẽ thu hồi sự tha thứ đó lại. Vì thế đa số con người sẽ không bao giờ thoát khỏi những hậu quả của tội lỗi của họ.

Phật tử có thể thoát khỏi nghiệp của họ không? Học thuyết nghiệp dạy rằng mọi hành vi (nghiệp) đều có hậu quả (vipaka). Tuy nhiên hậu quả này không luôn luôn ngang bằng với nguyên do của chúng. Ví dụ, một người trộm cắp cái gì đó, hành vi này sẽ có một hậu quả tiêu cực. Tuy nhiên ví dụ sau đó kẻ cắp cảm thấy hối hận, trả lại món đồ đánh cắp, và thành tâm cố gắng sống thiện lành hơn trong tương lai, thì hậu quả tiêu cực của hành động trộm cắp có thể được giảm nhẹ. Sẽ vẫn còn một hậu quả tuy không mạnh bằng. Nhưng dù cho kẻ trộm không hối cải điều xấu chăng nữa thì y cũng sẽ thoát nghiệp lực sau khi nhận chịu hậu quả của nó. Vì thế, theo Phật giáo, chúng ta có thể giải thoát khỏi nghiệp của chúng ta, trong lúc theo Thiên Chúa giáo, tội lỗi của chúng ta chỉ được tha thứ trong một khoảng thời gian vô cùng hạn chế.

Có nhiều khía cạnh khác trong đó học thuyết về nghiệp thì hay hơn những ý niệm tha thứ và trừng phạt của Thiên Chúa giáo. Với Phật giáo, trong lúc một người có thể chịu những hậu quả tiêu cực của việc xấu xa mà họ đã làm (và điều này thì cũng công bằng thôi) thì điều này có nghĩa là người đó cũng sẽ thu nhận được những kết quả tích cực cho những điều tốt mà họ đã làm. Trong Thiên Chúa giáo thì không thế. Ví dụ một người không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo mà dù có sống lương thiện, nhân từ, đại lượng và tốt bụng đến đâu thì khi chết, người này vẫn sa vào địa ngục và không nhận được tưởng thưởng nào về những điều tốt lành họ đã làm. Thêm nữa, theo học thuyết về nghiệp, những hậu quả chúng ta được hay bị thì đều tỷ lệ thuận với nguyên nhân của chúng một cách rất công bằng. Một lần nữa, điều này không xảy ra trong Thiên Chúa giáo – tại vì dù một tín đồ có cực kỳ xấu xa chỉ trong đời này của họ, thế mà phải bị trừng phạt trong địa ngục đời đời thì thật là một hình phạt không cân xứng. Còn nếu một người đạo hạnh mà không theo Thiên Chúa giáo thì không biết hình phạt sẽ còn nhiều hơn bao nhiêu nữa? Quả thực ý niệm chịu phạt đời đời trong địa ngục, và ý tưởng người nào không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo thì bị phạt vào đó, là những giáo lý làm mọi người nghi ngờ một cách nghiêm túc về khái niệm một Chúa Trời công bằng và lòng lành.

15. Giê-su là một nhân vật mà bạn không thể không quan tâm đến. Cuốn sách nầy của bạn là một bằng chứng khác về sự quan tâm đó.

Xin đùng suy bụng ta ra bụng người. Có vài tỷ Phật tử và tín đồ tôn giáo khác sống rất hạnh phúc mà không cần phải quan tâm đến Giê-su. Trong số đó, có người còn không nghĩ gì đến Giê-su, có người còn không biết đến Giê-su là ai. Còn nếu có Phật tử nào để ý đến Giê-su thì không phải vì bản thân Giê-su, lời dạy của Giê su hay những khẳng định về Giê-su thì có gì hấp dẫn đáng lưu ý, mà vì những nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo cứ dán vào mắt họ những tấm hình của Giê-su. Những kẻ truyền đạo nầy đã tiếp thị nhân vật Giê-su nhẫn nhục và hiền lành nầy như một thương hiệu kem đánh răng hay bột giặt.

16. Thật ra, trong thâm tâm, người Phật tử đang tìm kiếm Thiên Chúa và sự an bình mà chỉ Thiên Chúa mới ban cho được.

Đây là một ví dụ điển hình về sự nhỏ nhen mà tín đồ Thiên Chúa giáo bảo thủ, và ngay cả vài tín đồ Thiên Chúa giáo tiến bộ, thường cố gắng thuyết phục Phật tử cải đạo. Và đây cũng là một khẳng định vô nghĩa. Tại vì ta có thể đơn giản đảo ngược điều nầy và nói “Trong thâm tâm, thật ra các tín đồ Thiên Chúa giáo đang tìm kiếm Niết bàn và sự an bình mà chỉ Niết bàn mới mang lại”. Điều duy nhất mà một tuyên bố như thế lộ ra là tín đồ Thiên Chúa giáo thì không đủ khả năng để chấp nhận một thực tế là đa số loài người không phải là tín đồ của Thiên Chúa giáo và sẽ không bao giờ là tín đồ Thiên Chúa giáo. Trước thực tế nầy, những nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo tự an ủi rằng ai từ chối Giê-su thì sẽ đáng để bị đày vào Địa ngục. Còn những tín đồ Thiên Chúa giáo có đầu óc hơn thì tự an ủi rằng người Phật tử đang đi tìm Thiên Chúa nhưng … chưa gặp được Ngài.

17. Thiên Chúa giáo chỉ bắt đầu với một vài người, và chỉ trong vòng 300 năm đã trở thành tôn giáo chính của đế quốc La Mã. Nếu nó đã có thể phát triển xa như thế và nhanh như thế, hẵn nó phải nằm trong một kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Chủ nghĩa Cọng sản bắt đầu từ chỉ một người ngồi trong Thư viện Hoàng gia Anh, và trong vòng 65 năm sau khi ông ta chết, đã trở thành triết lý chỉ đạo cho gần một phần ba nhân loại. Tông phái kỳ lạ tên là Mormon ở Mỹ cũng đã bắt đầu với một người cựu tù nhân, khẳng định rằng ông ta được một thiên thần trao cho cuốn sách vàng, và bây giờ đã trở thành một hội thánh phát triển nhanh nhất trên thế giới. Nhà tiên tri Mohammed vốn chỉ là một tiểu thương gia khiêm cung và không được đi học, nhưng chỉ trong vòng 200 năm, tôn giáo của ông đã trải dài từ Ấn Độ đến Tây Ban Nha và vươn lên như một nền văn minh xúc tích và thâm sâu. Đức Phật chỉ là một nhà tu khổ hạnh không của cải, thế mà chỉ sau 2 thế kỷ, giáo pháp của Ngài đã lan rông khắp Ấn Độ và đến những xứ xa xôi.

Vậy thì sự kiện Thiên Chúa giáo được chính quyền La Mã (vua Constantine) giúp phát triển nhanh và xa, tự nó, không nói lên được điều gì cả. Nhiều tôn giáo khác cũng đã phát triển như thế thôi.

18. Thiên Chúa giáo lan khắp hầu hết các nước trên thế giới và có nhiều người theo hơn bất cứ tôn giáo nào khác, như thế Thiên Chúa giáo phải là chân lý

Đúng là Thiên Chúa giáo đã trải rộng khắp thế giới nhưng điều này đã xảy ra như thế nào? Mải đến thế kỷ thứ 15, Thiên Chúa giáo vẫn chỉ giới hạn ở châu Âu. Sau đó, các đội quân châu Âu lan khắp thế giới để tìm thuộc địa và áp đặt tôn giáo của họ lên các dân tộc bị chinh phục. Trong hầu hết các nước bị chinh phục (như Tích Lan, Phi luật tân, Đài Loan và một phần Ấn Độ), luật pháp được ban hành để cấm đoán các tôn giáo phi-Thiên Chúa giáo. Khoàng cuối thế kỷ thứ 19, chính sách áp đặt thô bạo không còn được sử dụng để bó buộc tín ngưỡng nữa nhưng, dưới ảnh hưởng các nhà truyền giáo, các quan chức chánh quyền thuộc địa đã cố cản trở các tôn giáo phi-Thiên Chúa giáo càng nhiều càng tốt. Ngày nay, sự lan tỏa của Thiên Chúa giáo được hỗ trợ bởi sự ủng hộ tài chính hậu hỹ mà các nhà truyền giáo nhận được nhiều nhất từ Mỹ. Vì thế Thiên Chúa giáo lan tỏa không phải vì nội tại nó tốt hơn mà vì vũ lực trong quá khứ và sự giàu có ngày hôm nay.

Tuy nhiên, cho dù Thiên Chúa giáo có là tôn giáo lớn nhất trên thế giới thì cũng chỉ là vấn đề định nghĩa. Liệu chúng ta có thể xem những tín đồ đạo Mormon, Moonie và Jehovah’s Witnesses là Thiên Chúa giáo không? Liệu chúng ta có thể xem nhiều môn phái và giáo phái thờ Chúa lạ lùng nở rộ ở Nam Mỹ và Châu Phi, đã ghi nhận có nhiều triệu người theo, là Thiên Chúa giáo không? Hầu hết những tín đồ Tin Lành thậm chí còn không xem Công giáo La Mã là Thiên Chúa giáo ! Nếu chúng ta bỏ đi tất cả các “hội thánh Thiên Chúa giáo” dị giáo, không chính thống, mê tín và kỳ quái, không xem họ là Thiên Chúa giáo “thực”, thì có lẽ sẽ làm cho Thiên Chúa giáo là một trong những tôn giáo nhỏ nhất trên thế giới. Điều này cũng giải thích tại sao Kinh Thánh nói chỉ 144.000 người sẽ được cứu rỗi trong Ngày Phán Xét (Rev, 14:3-4).

Tuy nhiên, ngay cả Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới chăng nữa thì điều này chứng tỏ được gì? Trong quá khứ gần đây thôi, sau gần mấy ngàn năm, hầu như mọi người vẫn còn tin quả địa cầu thì bằng phẳng, và họ đã lầm to. Một ý tưởng đúng hay sai thì không dính líu gì đến chuyện có bao nhiêu người tin vào ý tưởng đó.

19. Chúa Trời ban ơn cho kẻ nào tin Ngài. Vì vậy mà các nước Thiên Chúa giáo thì rất giàu có, còn các nước theo Phật giáo thì nghèo nàn.

Trong tất cả các luận cứ mà tín đồ Thiên Chúa giáo thường dùng để cố cải đạo người khác thì đây là điều ngờ nghệch nhất. Trước hết, ngay cả nếu Kinh Thánh có nói chuyện giàu có đó như vậy (nhưng thật ra thì ngược lại: Chúa Giê–su bèn phán cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người giàu vào nước thiên đàng khó lắm. Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Chúa Trời - Matt 19:23-24) thì hình như nếu Chúa Trời chỉ ban phúc cho châu Âu và châu Mỹ mà thôi thì thực ra đó chỉ là một lời nguyền rủa (khó được vào thiên đàng) được khéo ngụy trang mà thôi. Thứ hai, nếu sự sung túc thực sự là bằng chứng ân huệ của Chúa Trời thì có vẻ như Ngài thực sự thích những người Hồi giáo vì Ngài đã cho họ hầu hết tất cả mỏ dầu trên thế giới. Thứ ba, vài quốc gia Thiên Chúa giáo như Honduras và Phi Luật Tân rất nghèo trong lúc Nhật Bản, nước chủ yếu là Phật giáo, lại rất giàu. Và sau cùng, khi phát biểu như thế, tín đồ Thiên Chúa giáo đã lòi ra động cơ đích thực của họ về việc phụng thờ Chúa Trời – là ham muốn tiền bạc. Về phần Phật giáo, chúng ta được dạy rằng các phẩm chất như sự hài lòng, yêu thương, khoan hoà và an lạc nội tại thì quý hơn tiền bạc rất nhiều.

20. Khoa Khảo cổ học hiện đại đã chứng minh rằng nội dung của Kinh Thánh là trung thực.

Đây là một ví dụ điển hình về một “nửa-sự thật” mà những tín đồ Thiên Chúa giáo thường dùng để gây ấn tượng trên những người kém hiểu biết và/hoặc thiếu thông tin. Sự thật là Kinh Thánh chứa đựng khá nhiều thông tin lịch sử. Ví dụ sách Joshua kể lại chuyện dân Do Thái bao vây thành phố Jericho nhưng không chọc thủng được tường thành khá dày của thành phố nầy. Chúa Trời bèn hiện ra và dạy dân Do Thái đi vòng quanh thành 7 lần, nỗi kèn lên và thét một tiếng thật lớn thì bức thành sẽ sụp đổ. Dân Do Thái bèn làm theo lời Thiên Chúa và quả nhiên bốn bề thành liền sụp đổ và dân Do Thái chiếm được thành (Josh, 6:2-27). Những nhà khảo cổ đã đào xới và khảo sát thành phố cổ Jericho thì thấy thành nầy có tường lũy bao quanh, và đã có một lúc bị sụp đổ. Nhưng họ không tìm được một tí ti bằng chứng nào cho thấy thành bị sập vì dân Do Thái thổi kèn hay hay nhờ sự can thiệp của Chúa Trời. Ngược lại, họ tìm ra được bằng chứng là đã có một trận động đất làm sập vòng thành và cùng một lúc làm sập hầu hết các kiến trúc trong thành phố. Tất cả những điều nầy chứng minh rằng không có Chúa Trời trong vụ sập thành đó, mà thật ra là người thời xa xưa, khi phải giải thích các hiện tượng thiên nhiên, đã tin lầm là có sự can thiệp của thần linh.

Và nếu Kinh Thánh có chứa những dữ kiện lịch sử trung thực chăng nữa thì kinh sách của hầu hết các tôn giáo khác cũng vậy. Sách Iliad, sách Mahabharata và kinh sách Jain thì chứa đầy những thông tin lịch sử và địa lý trung thực. Vài kinh sách còn viết về thông tin địa chất chính xác nữa. Sách Swayambha Purana viết rằng thung lũng Kathmandu nguyên là một cái hồ cho đến khi Bồ Tát Manjusri dùng gươm cắt rặng núi cho nước trào ra ngoài. Ngày nay, các nhà địa chất học đã khảo sát và tìm thấy thung lũng Kathmandu nguyên là một cái hồ vào thời kỳ Pleistocene, và nước trong hồ đã cạn kiệt qua ngả khe núi Chobhar Gorge ở phía nam thung lũng. Kinh sách Phật giáo cũng chứa nhiều thông tin đã được các nhà khảo cổ kiểm chứng là thật. Kinh sách cho biết tu viện Veluvana, nơi Đức Phật thường lưu trú, thì nằm bên ngoài tường thành của thành phố Rajagaha. Và các nhà khảo cổ đã xác nhận chuyện nầy. Một trong những lời tiên tri hiếm hoi của Đức Phật là ngôi làng Patali sẽ phát triển để trở thành một thành phố lớn nhưng rồi bị lụt lội, hỏa hoạn và rối loạn xã hội (Digha Nikaya, kinh số 16). Khoa khảo cổ và ngành sử học đã chứng minh rằng Đức Phật nói đúng. Trong vòng 200 năm sau đó, ngôi làng Patali trở thành thủ đô của đế quốc Asoka, và trong một lần đào xới, các nhà khảo cổ đã tìm thấy các lớp bùn và tro khá dày chứng tỏ thủ đô nầy đã từng bị lụt lớn và cháy lớn trước đó.

21. Khắp thế giới, kể cả châu Á, Thiên Chúa giáo là một lực luợng tiến bộ trong lúc Phật giáo cải thiện rất ít cho xã hội

Trong lịch sử lâu dài của Thiên Chúa giáo, những điều đáng tự hào thì có lẽ cũng nhiều như những điều đáng xấu hổ. Hãy liệt kê vài ví dụ:

Ví dụ như chế độ nô lệ, một chế độ kinh khủng mà hầu hết mọi Giáo hội Thiên Chúa giáo đã ủng hộ mãi cho đến thế kỷ thứ 19. Sau khi tông đồ Paul cải đạo được kẻ nô lệ Oresimus vừa bỏ trốn, Paul đã thuyết phục y rằng vì y là một tín đồ Thiên Chúa giáo nên Oresimus phải quay trở lại với chủ mình, nhưng Paul lại chẵng bao giờ thuyết phục ông chủ phải thả người nô lệ của mình (Philemon, I: 3-20). Những người nô lệ Thiên Chúa giáo bị đòi hỏi phải duy trì những ràng buộc với chủ của họ, và những người chủ nô lệ thì không bị ép buộc nào phải giải phóng nô lệ. Kinh Thánh nói các nô lệ phải phục tùng chủ của họ dù có bị đối xử tàn tệ.

Các nô lệ phải ngoan ngoãn vâng lời chủ các ngươi với tất cả kính trọng, không phải chỉ với người chủ tử tế mà cả với người chủ hung dữ nữa. Vì ai chấp nhận Chúa Trời, người đó phải chịu đựng đau đớn trong khốn khổ dù không công bằng. Tại vì có công trạng gì đâu khi làm sai và bị đánh đập rồi chấp nhận một cách nhẫn nhục. Chỉ khi các ngươi làm đúng và khốn khổ vì điều đó mà các ngươi vẫn nhận chịu một cách nhẫn nhục thì lúc đó các ngươi mới được Chúa chấp nhận. (1 Pet, 2:18-20.)

Các nô lệ được chủ mua về phải ngoan ngoãn với chủ của họ và làm hài lòng chủ trong tất cả mọi lãnh vực, họ không được bướng bỉnh, cũng không được trộm vặt, mà phải bày tỏ lòng trung thành thực sự và trọn vẹn để trong tất cả mọi điều, họ tô điểm cho học thuyết của Chúa Trời, vị cứu rỗi chúng ta.(Tit, 2:9-10)

Vì thế, theo Thiên Chúa giáo, một nô lệ phải nhìn kẻ áp bức mình như là Chúa Trời vậy, và phải cho là bị đánh đập khi làm đúng thì tốt hơn là bị đánh đập khi làm sai. Những loại giáo lý như thế, dĩ nhiên, đã được các chủ nô lệ cổ vũ nồng nhiệt .

Bây giờ hãy xem trường hợp của khoa học. Quá trình phát triển khoa học ở phương Tây đã bị chậm lại do sự chống đối của giáo hội Thiên Chúa giáo (xem A History of the Warfare of Science with Theology in Christendom, 2 Vol, A.D.White, 1960). Sự chống đối của Thiên Chúa giáo đối với việc mổ xẻ xác chết đã làm cho y khoa và khoa giải phẩu chậm phát triển đến 300 năm. Sở dĩ Giáo hội chống đối là vì cho rằng việc mổ xác sẽ làm cho sau nầy, trong ngày Phán xét cuối cùng, các xác người sẽ không được phục sinh lành lặn. Giáo hội đã chống đối quan điểm mặt trời là trung tâm thái dương hệ và thậm chí còn đe doạ hành hình Galilleo vì ông nói quả đất quay quanh mặt trời. Khi Benjamin Franklin phát minh cột thu lôi để các toà nhà không bị sét đánh hư hại, giáo hội Tin Lành tại Mỹ đã làm ầm ỉ. Họ tin rằng với cột thu lôi, Chúa Trời sẽ không còn có thể trừng phạt những kẻ có tội bằng cách phóng lưởi tầm sét trực tiếp xuống nạn nhân nữa. Khi thuốc gây mê được phát minh, giáo hội từ chối không cho phép dùng để giảm đau lúc người đàn bà sinh nở. Kinh Thánh dạy và họ tin rằng đau đớn như thế là trừng phạt của Chúa Trời dành cho phụ nữ vì tội ăn trái táo của bà Eva.

Hãy xem sự lên án người Do Thái. Trong tất cả những trang sử ảm đạm của Thiên Chúa giáo, thì đây là trang sử ảm đạm và trơ trẽn nhất. Trong 2000 năm qua, tín đồ Thiên Chúa giáo đã tấn công, săn lùng, nhục mạ và tàn sát người Do Thái vì họ đã từ chối không tin vào Giê-su. Và trong lãnh vực này, Tin Lành cũng chẳng tốt gì hơn Công giáo La Mã. Năm 1986, một mục sư lãnh đạo Tin Lành ở Hoa Kỳ đã nói rằng “Chúa không thèm nghe người Do Thái cầu nguyện”. Martin Luther, người sáng lập ra đạo Tin Lành Phản thệ, đã viết một cuốn sách tên là “Về người Do Thái và những dối trá của chúng” (On the Jews and their lies), trong đó ông cổ vũ việc hành hạ người Do Thái tối đa trên cơ sở giống dân nầy đã không tin Giê-su. Cho nên ta không ngạc nhiên khi biết chính quyền Đức Quốc xã Nazi đã khuyến khích viếc ấn loát và phát hành cuốn sách nầy trong thời gian họ nắm quyền. Các bạn hãy thử tưởng tượng đi ! Trong vấn đề nầy, tên đồ tể Joseph Goebbels và vị mục sư Martin Luther thật tâm đầu ý hiệp. Tín đồ Tin Lành nói rằng mục sư Luther đã được “Chúa hướng dẫn”. Tại sao Chúa lòng lành không “hướng dẫn” ông Luther có một chút thương hại và bác ái đối với dân Do Thái tội nghiệp nầy ?

Chúng ta còn có thể tiếp tục xem nhiều trường hợp nữa, nhưng như thế cũng đã đủ rồi. Tuy nhiên, kể từ thế kỷ thứ 19, thật sự là đã có nhiều giáo hội Tin Lành bắt đầu hăng hái thừa nhận một cách nhìn tín ngưởng thế tục phóng khoáng hơn, và thu nhận cách nhìn nầy như của chính họ Vì thế, bây giờ tín đồ Thiên Chúa giáo thường đứng đầu trong các phong trào vì công lý, dân chủ và công bằng. Tuy nhiên, các phong trào nầy không kiếm được điều gì trong Kinh Thánh để biện minh cho các hành động của họ. Trái lại, Kinh Thánh đặc biệt nói rằng tất cả các nhà cai trị, dù những nhà cai trị bất công, đều đã thu nhận được quyền năng của họ từ Chúa Trời, nên chống đối họ là chống đối lại Chúa Trời.

Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Chúa Trời, các quyền đều bởi Chúa Trời chỉ định. Cho nên ai chống cự chính quyền tức là đối địch với mạng lịnh Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình. (Rom, 13:1-2, xem thêm Jn, 19:11, Tit, 3:1, Pet, 2:13, Prov, 8:15-16 và 16:10)

Các bạo chúa, các hồng y và các giám mục đã trích dẫn các đoạn như thế hàng thế kỷ nay để biện minh cho sự cai trị của họ. Ngay cả những nhà thần học giải phóng cho đến ngày nay cũng đều im lặng về các đoạn Kinh Thánh như thế. Triết lý xã hội Thiên Chúa giáo không đến từ Kinh Thánh, mà đến từ truyền thống thế tục phương Tây mà giáo hội đã chống đối 400 năm qua. Bây giờ, họ cố nguỵ tạo rằng những giá trị đó thì bắt nguồn từ Giê-su (xem What the Bible Really Says, ed. M. Smith and R. S. Hoffman , 1989).

Phật giáo thì luôn luôn kém năng nổ và kém tổ chức hơn Thiên Chúa giáo . Điều này có nghĩa là ảnh hưởng của Phật giáo lên xã hội thì tinh tế, ít nhận thấy hơn, và thậm chí kém năng động hơn ảnh hưởng mà đáng ra Phật giáo phải có. Mặt khác, điều này cũng còn có nghĩa rằng sự khủng bố chống lại kẻ dị giáo, sự ngược đãi những kẻ không tin Chúa, và những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, vốn là những thứ làm ô nhục lịch sử Thiên Chúa giáo, thì lại rất hiếm hay vắng bóng trong lịch sử của Phật giáo.

22. Tôi đã từng thăm viếng nhiều quốc gia Phật giáo, nhưng tôi ít thấy được cái giáo lý Phật giáo cao cả mà bạn nói đến. Những gì tôi thấy là sự thờ cúng những ác thần, các nhà sư thì xem bói toán, Phật tử thì tin vào quyền năng che chở của bùa phép và những hình thức mê tín dị đoan khác.

Thật là thú vị khi bạn đề cập đến chuyện nầy vì tôi đã từng ở Mỹ, một quốc gia được cả thế giới công nhận là đậm đà bản sắc Thiên Chúa giáo, nhưng tôi ít thấy được những lời dạy cao quý của Giê-su mà bạn nói đến .

Tôi thấy các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo trên truyền hình liên tục xin tiền tín đồ trong khi họ lãnh lương thật nhiều của hội thánh và ở trong những biệt thự lộng lẫy. Tôi đọc tin tức về Mục sư Jimmy Baker, một nhà truyền đạo nổi tiếng, bị tù 40 năm vì gian lận và trốn thuế. Tôi cũng quan tâm chuyện Mục sư nổi tiếng khắp nước Mỹ là Jimmy Swaggard đã mất chức khi người ta khám phá ra chuyện ông đi chơi đĩ và đọc dâm thư.

Tôi cũng thảng thốt khi biết đạo Mormon bắt vợ chồng phải sống với nhau suốt đời dù hoàn cảnh mâu thuẫn và đau khổ như thế nào, tín đồ không được uống trà và mỗi gia đình Mormon phải tích trữ nhiều đồ ăn trong nhà để chuẩn bị cho ngày tận thế. Khi du lịch về miền cực nam nước Mỹ, tôi cũng thấy tín đồ Tin Lành càng ngoan đạo bao nhiêu thì càng kỳ thị chủng tộc bấy nhiêu.

Tín đồ da trắng đi nhà thờ da trắng, tín đồ da đen đi nhà thờ da đen. Ngoài những điều xấu xa như thế, nghĩa là đạo đức giả và gian dối, điều làm tôi chú ý nhất là những tín đồ Tin Lành bảo thủ Mỹ sống trong sự kết nối không cách nào gở ra được giữa Thiên Chúa và của cải. Nhiều mục sư hình như chỉ giảng rằng thành tựu dưới thế, giàu sang, danh vọng, đạt được điều mình muốn, là Điều răn số một và điều răn quan trọng nhất. [Còn Công giáo La Mã ở Mỹ thì cũng tệ không thua gì Tin Lành. Bị phạt gần 2 tỷ Mỹ kim để đền bù cho hơn 1.000 nạn nhân bị sách nhiễu và xâm phạm tình dục, mà đa số nạn nhân là các em bé trai và bé gái còn nhỏ tuổi. Các linh mục phạm tội còn được Giáo hội Công giáo Mỹ bao che bằng cách giấu nhẹm hồ sơ, thuyên chuyển đi giáo phận khác, thậm chí còn cho họ ra nước ngoài để trốn toà án Mỹ.]

Có lẽ tốt nhất là bạn nên dọn sạch đống rác của bạn trước lúc xỉa xói vào những thất bại của người Phật tử. Giê-su nói đúng khi Ngài khuyên rằng: “Đồ đạo đức giả ! Hãy lấy cây đà ra khỏi mắt ngươi trước lúc dạy cho người láng giềng lấy mảnh dằm ra khỏi mắt họ”

Tín đồ Thiên Chúa giáo lương thiện nào có thể bảo đảm rằng tất cả mọi tín đồ Thiên Chúa giáo thì trọn vẹn, chân thành và thấu hiểu sâu xa đúng theo giáo lý của Giê-su? Hãy đừng phán đoán một tôn giáo căn cứ trên số lượng những người không tu tập được.



Người dịch : T.T.

(*) [Trích từ Chương 8 của tác phẩm “Tin Không Nổi - Một Phê bình Thiên Chúa giáo Bảo thủ từ góc độ Phật giáo” (Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity) của A.L. de Silva.]


nguồn http://giaodiemonline.com/2009/07/phephan.htm

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

LỜI NGUYỆN PHỤC SINH


Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh
Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,
xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,
Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.
Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.
Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.
Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
Vượt qua những thành kiến con có về người khác...

Chính vì Chúa đã phục sinh
nên con vui sướng và can đảm vượt qua,
dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh
gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,
tin tưởng và niềm vui.
Ước gì ai gặp con
cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.



Lạy Chúa, Chúa đã chịu chết và sống lại,
xin dạy chúng con biết chiến đấu
trong cuộc chiến mỗi ngày
để được sống dồi dào hơn.
Chúa đã khiêm tốn và kiên trì
nhận lấy những thất bại trong cuộc đời
cũng như mọi đau khổ của thập giá,
xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách
chúng con phải gánh chịu mỗi ngày,
thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến
và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng
chúng con không thể nên hoàn thiện
nếu như không biết từ bỏ chính mình
và những ước muốn ích kỷ.

Ước chi từ nay,
không gì có thể làm cho chúng con
khổ đau và khóc lóc
chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa phục sinh.

Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha,
là hy vọng hạnh phúc bất diệt,
là ngọn lửa tình yêu nồng nàn ;
xin lấy niềm vui của Người
mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ
và trở thành mối dây yêu thương,
bình an và hiệp nhất giữa chúng con. Amen.
(Mẹ Têrêxa Calcutta)

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Thánh địa của những nhà thờ cổ


(du lich) - Dường như toàn bộ lịch sử nghệ thuật kiến trúc Gothic kinh điển đã được tổng kết trong kiến trúc tuyệt vời của nhà thờ này.

Cách thủ đô Madrid gần 250km, Burgos làm say mê biết bao du khách bởi vẻ đẹp quyến rũ của những đền đài, thánh đường, những cây cầu lịch sử, những khu phố cổ, những cửa hiệu độc đáo và phong cách sống khác biệt.


Là một trong ba nhà thờ lớn nhất của Tây Ban Nha, nhà thờ Burgos được xây dựng từ năm 1221 và hoàn thành năm 1567.


Với phong cách kiến trúc Gothic điển hình nhất cho dòng Xito, nhà thờ được xây bằng đá vôi trắng vươn cao với tất cả sự uy nghi và niềm kiêu hãnh.

Dường như toàn bộ lịch sử nghệ thuật kiến trúc Gothic kinh điển đã được tổng kết trong kiến trúc tuyệt vời của nhà thờ này cùng bộ sưu tập độc đáo các tác phẩm nghệ thuật, bao gồm cả tranh vẽ, lăng mộ và những ô cửa sổ bằng kính nhiều màu rất đặc trưng.


Đối với khách hành hương, nơi đây còn trở nên thiêng liêng hơn thế khi nhà thờ vẫn lưu giữ mộ của vừa Fernan Gonzalez và El Cid – hai vị anh hùng cứu quốc nổi tiếng trong cuộc chiến chống lại người Moors từ thế kỉ thứ 8 cho đến thế kỉ thứ II.


Để đi hết nhà thờ Burgos, phải mất cả tiếng đồng hồ. Thả bước theo lối vào nhà thờ được chạm trổ tinh vi, du khách phải ngước lên hết cỡ mới ngắm hết được những bức tường cao ngất ngưởng và tháp chuông nhà thờ cao vút gần như chạm đến trời xanh. Dù đặt máy ở bất cứ góc nào, bạn cũng có sẵn một khung ảnh tuyệt đẹp với những bức tường cổ kính làm nền và trải dài về phía xa đường chân trời là bầu trời xanh trong.

Nhà thờ tọa lạc bên sông được bắc ngang bởi một cây cầu cổ nên nhìn từ đằng xa quang cảnh hiện lên đẹp đến mê hồn.
Vòng ra phía sau nhà thờ, những ngôi nhà đủ màu sắc xung quanh mang lại một chút tươi vui cho nơi chốn linh thiêng trầm mặc này. Dưới bóng những hàng cây dài chạy dọc quanh nhà thờ, du khách thong thả dạo bước, ngẩn ngơ ngắm nhìn từng mảng kiến trúc của công trình kỳ vĩ và trải lòng cùng tiếng chuông ngân vang.

Có rất nhiều con đường nhỏ tỏa vào nhà thờ. Mỗi con đường lại được điểm xuyết bởi những quán bar hay những nhà hàng nhỏ để du khách dừng lại nghỉ ngơi, thư giãn sau chuyến tham quan.

Những shop bán hàng lưu niệm luôn có cách bày trí riêng theo cách của mình để thu hút du khách. Tất nhiên, biểu tượng của nhà thờ Burgos luôn xuất hiện trên các món hàng lưu niệm như nam châm, bưu thiếp, khăn hay những cuốn lịch tay nho nhỏ.

Burgos cũng là một đại diện trong số sáu thành phố của Tây Ban Nha đang nỗ lực trở thành “thủ đô văn hóa của Chân Âu” vào năm 2016 – cùng một thành phố của Phần Lan.

(ST)