“Chúa là khát vọng, là ước mơ đời con. Hồn con hướng tới Ngài, hồn con cậy trông nơi Ngài. Hồn con vươn lên tới Chúa. Hồn con sướng vui trong Ngài” (Tv 24, 1-3). Thank you for visiting this website, where we learn that all have sinned and need God’s forgiveness.
Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012
Tác giả: Phùng Văn Hóa
Triết học Hy lạp ngay từ đầu đã có sự lẫn lộn giữa vật lý học với siêu hình học đến nỗi có học giả đã nói cách giễu cợt rằng “vật lý học của Aristote là một thứ vật lý học siêu hình và siêu hình học của ông lại là siêu hình học vật lý” (xem T.T.Đỉnh. Triết học hiện sinh) Lý do khiến đưa đến có sự mập mờ lẫn lộn giữa siêu hình học và vật lý học như thế là vì cái gọi là vật lý học ấy trong thực chất cũng chỉ là một thứ tri thức luận có nghĩa thuần là lý thuyết. Chính bởi đó mà vật lý học (Physica) còn có tên khác là Thiên nhiên học (Natura physica). Tuy gọi là Thiên nhiên học nhưng lại không hề học về thiên nhiên (vật) mà lại về Thiên nhiên tính với những câu hỏi đại loại như “Làm thế nào một sự vật lại có thể cứ mãi là nó như thế mà đồng thời vẫn chấp nhận được những thuộc tính khác nhau đôi khi còn đối lập nhau nữa ?(L.T.Nghiêm. SĐD) Nguyên nhân khiến cho vật lý học cứ phải gắn liền với siêu hình học như thế bởi chưng còn thấy “có vật” dù “vật”ấy chỉ là nguyên tử rắn chắc không thể phân chia. Một khi đã thấy”có vật”thì đương nhiên phải tìm cho nó một cái nguyên nhân và việc tìm ấy người ta gọi nó là siêu hình học, đệ nhất triết học, khoa học Thánh, Thần học v.v…Đang khi ấy với nền vật lý hiện đại người ta đã khám phá ra rằng”vật”không còn là”vật”mà là năng lượng. Điều này không thể không khiến cho toàn bộ Siêu hình học Tây phương tồn tại trong bấy lâu nay lâm cơn khủng hoảng và rồi đi đến chỗ sụp đổMột nền Siêu Hình Học được xây dựng dựa trên nền tảng của”vật”tức vẫn còn ở trong phạm vi”TĨNH CHỈ”= Vật luôn chỉ là vật mà không thể là”phi vật”. Núi chỉ là núi mà không thể là”phi núi.”Người chỉ là người mà không thể là”phi người”.. Trái lại khi vật không phải vật mà là năng lượng thì trái núi kia có thể được nổ mìn phá ra thành những viên đá lót đường, có thể nghiền nát để làm ximăng hoặc đục đẽo để thành tượng Phật, tượng Chúa v.v….. Còn cái gọi là”Người”đây cũng không phải cứ mãi là “người”mà có thể là quỷ, là Thần, là Thánh một ngày nào đó. Bất cứ một nền Thần học nào còn thuộc loại”TĨNH”như thế đều chỉ có thể sản sinh ra những khái niệm chết khô chẳng liên quan gì tới Thực Tại là cái biến chuyển không ngùng. Sự biến chuyển ấy dĩ nhiên không phải chỉ có tính cách vĩ mô nhưng nó diễn ra ngay trong lòng mỗi một nguyên tử”Thí nghiệm Rutherford cho thấy nguyên tử không hề là những hạt nhỏ không thể phân chia mà chỉ là không gian trống rỗng trong đó những hạt li ti vận động. Rồi bây giờ thuyết lượng tử lại còn cho rằng bản thân những hạt đó cũng chẳng cứng chắc gì cả theo nghĩa của vật lý cổ điển. Những đơn vị hạ nguyên tử là một cấu trúc trừu tượng với thuộc tính hai mặt. Tuỳ theo chúng ta nhìn chúng như thế nào mà chúng xuất hiện khi là hạt khi khác là sóng. Ánh sáng cũng xuất hiện hai mặt, khi là sóng điện từ khi thì xuất hiện như hạt”(Fritjop Capra – Sđd)Ở đây ta thấy với cái nhìn thấu thị của vật lý học hiện đại thì nền tảng của vật chất không phải là những hạt rời rạc không thể chia phân mà tất cả đều dung thông với nhau trong một tổng thể duy nhất. Sở dĩ có được sự dung thông ấy là vì bản thân cái gọi là hạt ấy chỉ là một không gian trống không. Nếu bản thân các hạt đã trống không thì toàn thể vạn vật cũng trống không. Trống không ở đây không phải là không có gì hết(ngoan không)nhưng là không có tự thể (vô tự tánh, vô ngã). Chính bởi không tự thể mà muôn sự muôn vật mới có thể hiện hữu. Trái núi vì không có tự thể nên mới có thể dung thông được với suối nguồn, rừng cây, chim muông đủ thứ. Con sông vì không có tự thể nên mới có thể dung thông được với từng bầy cá lội nhởn nhơ, còn thuyền bè thì ngược xuôi trên đó. Muôn sự muôn vật đã vậy thì con người cũng thế cũng hoàn toàn không có tự thể. Thân thể bao gồm lục phủ ngũ tạng, nếu mỗi tạng đều có tự thể. Tim chỉ biết có mình, gan ruột phổi phèo …. cũng thế thì làm sao mà các cơ quan ấy có thể dung thông với nhau để chúng ta có thể sống? Đây là xét về mặt thể chất thô phù, còn về phương diện tâm linh vi tế lại còn phức tạp hơn rất nhiều. Nếu ai cũng cứ theo ý riêng mình thì làm sao mà có thể đi đến chỗ cảm thông, hoà hợp hoà giải với nhau được ? Sự sống dù là loài vô tình hay hữu tình suy cho cùng hết thảy đều có sự hoà hợp. Sự hoà hợp ấy gọi là hợp với lẽ ĐẠO. Hợp với trời thì sống, trái với trời thì chết(Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong) Sống cách sao để “Thuận thiên tức hợp với CHÚA, biết vâng theo Thánh Ý Ngài đó là tất cả yếu quyết của khoa học tâm linh đồng cũng là của ĐẠO CHÚA”Mọi sự đều ra từ Đức Chúa Trời, Ngài đã nhờ Đức Kitô mà khiến chúng ta hoà lại với NGƯỜI và giao cho chúng ta chức dịch giải hoà”2C. 5,18. Mục đích xuống thế của Đức Kitô là để cho con người hoà lại với THIÊN CHÚA, Nói đến hoà lại tức có nghĩa trước đó đã có sự bất hoà và sự bất hoà ấy đã khởi sự từ Adam nguyên tổ khi cố tình ăn trái cấm”ĐCT phán dạy rằng ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn. Nhưng về cây biết phân biệt điều thiện điều ác thì chớ có hề ăn đến,. Vì một mai ngươi ăn đến chắc là phải chết”STK, 2, 16-17. Trái cấm là biểu tượng cho sự phân biệt, còn Vườn Địa Đàng là Tâm Vô Phân Biệt. Khi tâm khởi phân biệt là lúc phải rời khỏi Địa Đàng để bước vào chốn gian trần khổ ải “Đất sẽ sanh chông gai, và cây trái đắng đót”STK, 3, 18. Tâm vô phân biệt cũng tức là cái tâm trẻ thơ(xích tử chi tâm) và đồng thời cũng chính là Nước Trời mầu nhiệm nội tại chỉ có thể được dành cho con trẻ”Cha ơi, Cha là CHÚA trời đất. Con cảm tạ Cha vì Cha đã giấu những điều này (mầu nhiệm Nước Trời)với những kẻ khôn ngoan thông sáng mà bày tỏ cho con trẻ. Phải Cha ơi, vì như vậy đẹp lòng Cha.”Mt 11, 25-27.Tại sao mầu nhiệm Nước Trời chỉ mở ra cho con trẻ mà đóng lại với những kẻ khôn ngoan thông sáng ? Bởi vì con trẻ thì đơn sơ trong trắng, dễ tin, dễ nhận, trái lại những kẻ khôn ngoan thì cậy vào tài trí của mình, đức tin không thể triển nở, do vậy ngã chấp ngày càng sâu dày. Thiên Chúa là Đấng Ẩn Giấu (Deus Abconsditus) nhưng lại ẩn giấu ở nơi ta, phải bỏ “Cái Ta”đi thì mới có thể gặp được Ngài.Bỏ dược chừng nào thì CHÚA hiện chừng ấy, không bỏ thì không có cách chi gặp được. Chỉ khi nào bỏ hết ‘Cái Ta”đi thì khi ấy mới gọi là Thấy Chúa cũng tức là Sự Sống Đời Đời ở nơi chính mình”Sự sống đời đời là nhận biết CHA, (Kiến Tánh) tức Chân Thần Duy Nhất cùng GiêSu Kitô mà CHA đã sai đến”Ga, 17,3. Ai cũng biết theo Chúa thì phải”bỏ mình”tức bỏ cái TA đi, thế nhưng việc ấy vô cùng khó khăn bởi vì nó đã đụng chạm đến cái phần thâm sâu của bản ngã. Theo CHÚA thì giống như cái việc chèo nước ngược ắt sẽ không khỏi bị thế gian cho là khờ là dại. Tuy nhiên đường lối CHÚA là vậy không thể có cách nào khác “Vì tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng do sự khôn ngoan ĐCT mà nhận biết ĐCT cho nên ĐCT vui lòng dùng sự ngu dại của Đạo chúng ta để rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin”1C, 1-2 Chúa chỉ có thể cứu những kẻ tin, bởi đó Đạo Chúa cũng còn gọi là Đạo Đức Tin (Rm 10,8)
Tác giả: Phùng Văn Hóa
Thần học hiểu như một thứ khoa học đào sâu tìm hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa (xem ”Dẫn vào Thần học” của Lm N.v.Tuyên) trong bấy lâu nay thực chất không hơn không kém cũng vẫn chỉ là một thứ triết học về vũ trụ (philosophie de la nature). Lẽ ra đối tượng của Thần Học phải là Thiên Chúa nhưng tại sao lại là vũ trụ? Để trả lời cho câu hỏi này ta phải xét đến mục đích của nó và đây là định nghĩa của Kinh viện học ”Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng” (Laphilosophie est la science des choses par leurs causes suprêmes) Qua câu định nghĩa này ta thấy Thiên Chúa đã được đồng hóa với cái gọi là ”Nguyên nhân tối cao”. Thiên Chúa là nguyên nhân tối cao. Ngược lại, nguyên nhân tối cao là Thiên Chúa. Như vậy vấn đề của Thần Học cũng chẳng khác gì của triết, đó là tìm cho biết về cái căn nguyên của vũ trụ vạn vật.Từ rất lâu xa vào thời thượng cổ, các triết gia Hylạp đã tìm cách giải nghĩa về căn nguyên ấy. Thàles [624-547] nói ”Tất cả là nước”. Anaximandre [610-545] nói ”Tất cả đều bất định” Anaximene [585-528] nói là khí. Còn Phytagore [570-496] nói là ”Hòa âm”(cosmos) Heraclite [544-484] nói là Lửa v.v….Cố nhiên không ai ngây thơ hiểu những yếu tố mà các triết gia nói tới ở đây như = nước, lửa, khí…. theo nghĩa đen mà các nhà tư tưởng cổ đại ấy chỉ muốn nói lên một điều rằng tất cả vạn vật đều được phát sinh từ một bản thể duy nhất. Dẫu vậy cuộc truy tìm căn nguyên ấy chỉ đến khi có sự xuất hiện của hai tên tuổi lớn là Platon [427-347] và học trò của ông là Aristote [384-322] thì nó mới thực sự đi vào hệ thống hóa trong đó bao gồm hai môn, một là Siêu Hình Học(Metaphysics) và hai là Vật Lý Học (Physics) nghiên cứu về hiện tượng. Ảnh hưởng của hai triết gia này đối với Âu Châu Công Giáo hết sức là lớn. Thế nhưng cũng có thể nói chính là nhờ vào giáo hội thời đó mà triết học của hai nhà tư tưởng lớn này mới có cơ tồn tại cho tới ngày nay. Thoạt đầu khi mới du nhập, triết Hylạp cách riêng là Aristote đã gặp phải những phản ứng gay gắt. Vào năm 1210 Tgm Sens và nhiều giám mục khác nhóm họp công đồng tại Paris đã lên án cấm chỉ đọc đọc Aristote, đặc biệt là những tác phẩm về Thiên nhiên học và Siêu hình học của ông. Ấy vậy mà ngay vào giữa thế kỷ 13, giáo hội dần dà tự kiểm thảo lại và đã đồng ý cho mở những giảng trình công khai về Aristote tại Paris và năm mươi năm sau triết gia này đã trở thành trụ cột về tư tưởng của giáo hội đến nỗi bất cứ ai chủ trương ngược lại đều không thể không bị nghi ngờ là tà đạo ….Aristote đã được trọng vọng đến nỗi đã được xưng tụng là ”Tiền Hô của Đức Kitô trong những gì thuộc lãnh vực thiên nhiên không khác gì Jean Baptit trong lãnh vực ân sủng” (Proecursor Christi in rebus naturalibus sicut Joannes Baptistain rebusgratuitis).Giống như Jean Baptite, Tiền hô là người đi trước dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Vậy thì tiền hô trong lãnh vực thiên nhiên Aristote có là kẻ dọn đường và dọn đường cho ai? So sánh như trong trường hợp này thật quá ư khập khiễng và vô nghĩa. Tuy vậy ở đây người ta chỉ muốn nói lên tính chất vô cùng quan hệ của Aristote đối với giáo hội thời đó, một giáo hội đã và đang bị tràn ngập bởi vô số tà thuyết phiếm thần do ảnh hưởng của Platon để lại. Nguyên do bởi đâu mà Aristote một kẻ vô giáo nghĩa là hoàn toàn đối nghịch với Kinh Thánh và đức tin lại được tuyên dương như vị tiền hô cho Đấng Cứu Thế ? Đó là bởi triết học ấy có một điểm rất quan hệ trùng khớp với lập trường giáo hội = Sự tách biệt triệt để giữa Đấng Sáng Tạo và các tạo vật ”Thomas luôn luôn bảo trì sự tách biệt giữa Đấng Tạo Hoá và tạo vật. Hơn nữa với quan niệm một Thiên Chúa siêu việt có quyền năng vô hạn do đó được quan niệm như có khả năng sáng tạo vạn vật cách phi thường từ hư vô, thừa hưởng được từ Do Thái giáo” (L.T. Nghiêm SĐD).Đấng Thần linh Tạo Hoá hoàn toàn cách biệt với tạo vật, với con người. Đấng ấy có hiện hữu hay không, đó là điều cần phải được chứng minh. St Thomas d’Aquin đưa ra năm chứng lý còn gọi là năm con đường (Quinque viae). Với năm lý chứng này theo những nhà Thomisme đã là quá đủ, có thể chỉ cần một thôi cũng được ”...Tất cả những dữ kiện trên cho phép ta gặp đặc tính tổng quát đầu tiên của cả năm con đường vừa nói trên là phải khởi sự từ một hiện hữu. Vì chỉ cần chấp nhận lý do tồn tại túc lý cho một hiện hữu bất cứ trong kinh nghiệm thường nghiệm … thì cũng đủ để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa” (L.T.N. SĐD).Với kinh nghiệm thường nghiệm thì ai cũng thấy trái núi sừng sững kia hiện hữu mà một hạt cát nhỏ li ti đây cũng hiện hữu. Thế nhưng đó chỉ là ”Thường nghiệm”tức cái nhìn của …. người đời. Còn với khoa học thì trái núi hay hạt cát không đơn thuần là trái núi hay hạt cát mà đó là tổng thể của các đơn chất (nguyên tử). Vật nọ vật kia có vẻ hiện hữu thật đó nhưng chỉ là hiện hữu theo cái nhìn thường nghiệm. Đi tìm nguyên nhân cho những cái gọi là ”vật nọ, vật kia” để rồi kết luận tất yếu phải có đấng tạo ra chúng. Kết luận ấy phải chăng là vô bằng ?
Tác giả: Phùng Văn Hóa
Đức Kitô nêu dụ ngôn người đàn bà góa và viên quan án có ý nhắc nhở mọi người: Hãy bền lòng cầu nguyện vì “Ngày của Chúa đã gần”. Tiếp đó Ngài có nói một câu khiến chúng ta cần nên suy ngẫm “Liệu khi Con Người đến há sẽ tìm được đức tin trên mặt đất này chăng?” (Lc 18, 8) Trong Thánh Lễ hàng ngày mọi tín hữu vẫn tuyên xưng và mong mỏi ngày Chúa lại đến. Thế nhưng thực tế thì sao ? Chúng ta có thực sự tin, thực sự mong Ngày Chúa đến? Ngày Chúa đến Kinh Thánh cho biết cũng chính là Ngày Tận Thế. Ngày này chẳng biết khi nào đến nhưng chắc chắn phải có khi mà các điều kiện đã hội đủ “Môn đệ bèn hỏi : Thưa Chúa ở đâu (bao giờ) Ngài đáp: xác chết ở đâu, diều hâu ở đó” Lc 17, 37. Ở đây Chúa không khẳng định nhưng chỉ đặt nghi vấn = Liệu chừng con người còn có đức tin trong những ngày tháng đó hay không? Câu trả lời là của mỗi người. Nếu ai đó còn cầu nguyện cách kiên trì dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, kẻ đó còn có đức tin. Ngược lại nếu bỏ hẳn hoặc cầu nguyện chỉ còn là cái hình thức phô trương bề ngoài thì kể như đức tin đã mất. Tôn giáo cùng với Tín Ngưỡng là một. Thế nhưng rất có thể nó chỉ là mê tín dị đoan khi mà con người còn phủ phục vái van trước các ngẫu tượng thần linh ngoại lai nào đó. Đạo Chúa là đạo đức tin và đức tin ấy không phải là tin vào đấng nào khác nhưng là tin vào Đấng Chúa ở nơi chính mình “Đạo ở gần ngươi, ở trong lòng ngươi tức là Đạo đức tin mà chúng tôi rao giảng đây” Rm 10, 8.Giáo hội hiện đang lâm cơn khủng hoảng và khủng hoảng cách nghiêm trọng mà nguyên nhân gây ra cho nó theo lời đức cố hồng y F.X. Nguyễn Văn Thuận là do đã “Hạ giá cầu nguyện” (ĐHV 134). Hạ giá có nghĩa đã không coi trọng việc cầu nguyện như đáng ra phải có. Có hai loại hạ giá, một là coi việc đọc kinh lần hạt như là cái việc đạo đức bình dân chỉ dành cho hạng đàn bà con trẻ, không biết suy biết luận thì thôi đọc kinh …cũng được v.v… Hai là đã biến việc cầu nguyện thành ra suy niệm này nọ, kinh gì cũng đem ra suy, diễn giải tràn lan. Kinh Lạy Cha cũng suy, kinh Mân Côi cũng suy. Thậm chí kinh Tám mối phúc thật có người (Jacque Dupont OSB) còn suy bằng cả một cuốn sách dày hàng ngàn trang trong đó thuần túy chỉ là xuyên tạc bóp méo Kinh Thánh. Tuy nhiên có đúng là việc hạ giá cầu nguyện là nguyên nhân đưa đến khủng hoảng hay không? Theo tôi thì không phải, thật ra đó cũng chỉ là một trong các hiện tượng tất yếu của cơn khủng hoảng đức tin mà thôi.CHƯƠNG MỘTCơn khủng hoảng Đức tin trong Giáo hộiKinh Thánh từ bao đời nay vẫn được giáo hội tin, giảng dạy là sách chứa đựng những chân lý vĩnh cửu và tác giả của sách ấy chẳng phải ai khác mà đó chính là Thiên Chúa Đấng Thượng Trí Vô Song. Thế nhưng niềm tin ấy đã bị lung lay và hầu như sụp đổ trước những khám phá khoa học. Có hai phát kiến gây ảnh hưởng đến đức tin cách nghiêm trọng:1/- Về Thiên vănTrong giới khoa học người ta lấy Nicolas Corpecnic [1473- 1543] với phát kiến hệ nhật tâm (mặt trời là trung tâm) của ông để như một thứ mốc phân chia hai thời kỳ. Từ Corpecnic trở về trước là thời Ptolemy [83- 161] thuộc hệ địa tâm (trái đất là trung tâm). Trong hệ địa tâm này người ta cụ thể là Thần Học Âu châu trung cổ cho rằng trái đất là trung tâm bất động của vũ trụ do Thiên Chúa sáng tạo cùng với toàn bộ các công trình của Ngài. Thiên Chúa đã sáng tạo bằng cách dùng đất nặn ra các loài động vật chim muông. Riêng con người thì còn hà hơi vào để cho nó có linh hồn v.v…Thiên Chúa cũng lập ra vườn Địa Đàng và vườn ấy có địa điểm cụ thể rõ ràng (có vẽ cả bản đồ) ở nước Irac nơi vùng Tây Nam Á châu bây giờ. Tất cả những gì ghi chép trong sách Sáng Thế ký được hiểu theo nghĩa đen như thế đều hoàn toàn trái ngược với phát kiến khoa học của Corpecnic và tiếp đến là của Gallileo [1564 – 1642] Trái đất tự quay quanh mình một vòng 24 giờ và quay quanh mặt trời một vòng 365 ngày. Kiến thức khoa học ấy bây giờ ngay cả một học sinh cấp hai cũng biết. Ấy vậy mà cách đây bốn thế kỷ đó là một sự kiện long trời lở đất. Phản ứng của giáo hội thời đó thật là gay gắt, Gallileo chỉ chút nữa đã bị đưa lên giàn thiêu. Mặc dầu vậy trong vấn đề này = Trái đất có là trung tâm hay không, cho đến nay khi nhân loại đã bước vào kỷ nguyên thiên văn vô cùng tiến bộ, khám phá ra vô vàn vô số thiên hà cách xa trái đất hàng tỉ năm ánh sáng thì dường như đức tin Kitô giáo vẫn vậy …chẳng có chi thay đổi, vẫn là một thử thách không thể vượt qua. Sau khi cơ quan hàng không vũ trụ NASA phát hiện ra sự sống trên Sao Hỏa thì các giáo hội Kitô đã đồng loạt lên tiếng. Ông John Polkinghome một giới chức Anh giáo và là giám đốc Queens College trả lời báo The Guardian “Tranh luận trong giới tôn giáo về sự sống trên các hành tinh khác đã kéo dài từ bao thế kỷ nay. Vấn đề đặt ra như sau: nếu đức Kitô chết để chuộc tội cho nhân loại vậy thì những người ở hành tinh khác sẽ ra sao, liệu họ có được cứu chuộc không ? Nếu họ cũng cần cứu độ thì Thiên Chúa cũng mặc lấy xác phàm của họ như đã mặc lấy xác loài người hay chăng” (Xem TB CG&DT số 1073 ngày 15-9-1996)Nguyên nhân đưa đến sự tranh cãi dằng dai cả mấy thế kỷ của giới khoa học và giới tôn giáo mà vẫn không thể giải quyết đó là vì chẳng bên nào chịu nhận ra được bản chất thực sự của việc cứu độ rằng cứu cái gì ? Cứu cách sao? v..v. Giáo hội một mặt vẫn ra sức chống đỡ, mặt khác đức tin vẫn cứ đội nón ra đi không hề ngoái lại. Ngoài ra đức tin còn phải đối mặt với một thế lực khác nguy hại không kém đó là học thuyết tiến hóa.2/- Về mặt tiến hóaNếu phát kiến hệ nhật tâm của Corpecnic là cuộc cách mạng trong thiên văn thì Darwin với thuyết tiến hóa là cách mạng trong sinh học. Thật vậy trước Darwin [1809-1882] tư tưởng duy tâm tôn giáo thống ngự trên khắp các lãnh vực từ triết học cho tới sinh vật học với quan điểm cho rằng toàn thể vạn vật trong đó có cả con người đều đã được Thiên Chúa tạo dựng cùng một lần và chúng không hề có sự biến đổi nào qua không gian và thời gian. Adam và Eva là hai người nam và nữ đầu tiên đã sống trên trái đất này cùng với núi non sông ngòi chim muông thú vật v..v. Cũng chính bởi tin tưởng Adam là con người bằng xương bằng thịt thế nên căn cứ vào gia phả đã được ghi chép mà người ta định ra niên đại của vũ trụ chỉ mới được tạo dựng trước công nguyên có 4923 năm. Niên đại này quá nhỏ nhoi so với lịch sử năm tỷ năm của trái đất. Mặc dầu vậy giáo hội thời đó cũng không cho phép bất cứ ai được nói khác: Trong quyển “Lịch sử vạn vật” Buffon chủ trương trái đất đã có khoảng 70.000 (Bảy mươi ngàn) năm thế mà đã bị coi là một xúc phạm lớn lao và tác phẩm đã bị cấm đoán, khi Darwin chết người ta còn dạy rằng vũ trụ được tạo dựng 4923 năm trước kỷ nguyên và cuốn tự điển Larouse xuất bản năm 1882 ghi rằng đó là niên kỷ duy nhất được chấp nhận trong các trường (N.V. Thọ - Le Comte du Nouy và học thuyết viễn đích)Thật ra trước Darwin đã có Lamark (1744-1929) nhà khoa học tự nhiên người Pháp nổi tiếng với tác phẩm “Triết học về động vật học”. Trong đó nêu luận chứng cho rằng “sự thay đổi của môi trường bên ngoài dẫn tới sự xuất hiện những tính chất mới của sinh vật và những tính chất mới này được di truyền lại” Đây là một quan điểm rất mới và hoàn toàn khác với những điều người ta vẫn tin được chép trong sách sáng thế. Quan điểm của Lamark thời ấy đã rất chi là tiến bộ. Dẫu vậy ông vẫn bị coi là duy tâm khi chủ trương bản thân vật chất không thể vận động và sự phát triển của hữu sinh cũng như của vô sinh là tuân theo “mục đích nội tại của Thượng Đế”. Sau Lamarck nửa thế kỷ, “Học thuyết tiến hóa” chính thức ra mắt với tác phẩm có cái tựa khá dài “Nguồn gốc các loài bằng con đường chọn lọc tự nhiên hay là sự bảo tồn những dạng thích nghi trong đấu tranh sinh tồn”. Với tựa sách dài thậm thượt như vậy, gần như Darwin đã tóm lược toàn bộ học thuyết của mình. Ở đây ta thấy thuyết Darwin hoàn toàn bác bỏ Đấng Thần Linh Tạo Hóa như là nguyên nhân sáng tạo vạn vật để thay thế vào đó là hai yếu tố. Một là chọn lọc tự nhiên và hai là đấu tranh sinh tồn. Thuyết tiến hóa tỏ rõ sức sống của nó được củng cố bằng những khám phá khoa học ngày càng nhiều trên khắp lãnh vực từ thiên văn cho đến địa chất. Từ sinh vật học cho đến di truyền học v.v…Với hoàn cảnh rất ư bất lợi cho đức tin như thế giáo hội cuối cùng đã phải xoay chiều “Trong một Thông điệp tháng 8 năm 1950, ĐGH Pio XII tuyên bố giáo dân được học thuyết tiến hóa miễn là thuyết ấy chỉ tìm căn nguyên thể xác con người trong một sinh cơ tiền tại và từ đầu thế kỷ XX thay vì dùng Thánh Kinh để phi bác thuyết tiến hóa, các nhà biện giải TK ngược lại đã cố giải thích TK cho phù hợp với các khám phá khoa học” (N.v.Thọ. SĐD)Sau biết bao nỗ lực giải thích TK cho phù hợp với khoa học. Có một thực tế này là đức tin vào sự hiện hữu của một Đấng Thiên Chúa chân thật, Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, và của Giacop (Lc 23,37) đã biến mất để nhường chỗ cho những khái niệm chết khô về Ngài. Pierre Teilhard de Chardin, một linh mục, một chuyên gia địa chất học, sinh vật học lỗi lạc đã phát biểu về đức tin thế này “Tôi tin rằng cuộc tiến hóa này tiến tới thần linh. Tôi tin rằng Thần Linh sẽ kết thúc trong Thượng Đế hữu ngã. Tôi tin rằng Thượng Đế hữu ngã tuyệt đối là đấng Christ đại đồng phổ quát” (Georges Magloire. T. de Chardin)
Tin rằng tiến hóa sẽ dẫn tới Thần Linh. Điều ấy chứng tỏ cái gì nếu chẳng phải là đã đương nhiên bác bỏ tôn giáo và cách riêng là phủ nhận vai trò cứu độ của Đức Kitô khi Ngài nói “Ta là đường là sự thật Và là sự sống, Không ai đến được với CHA mà không qua Thầy” Ga, 14,6. Cuộc khủng khoảng đức tin hiện nay xét cho kỹ đó là hậu quả gây ra do việc dung hòa đức tin và khoa học của Thần học duy lý cách nay hàng ngàn năm.
Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012
Lời mùa xuân![]() |
| Chúa Xuân |
Mùa xuân là khởi đầu, là hy vọng. Lời chúc đầu xuân bay đến bạn vào những thời khắc chuyển giao một năm mới đều là những lời tốt đẹp. Chúc thành công, may mắn. Chúc mọi sự an lành, chúc ước mơ thành hiện thực. Chúc phú quý đại lợi. Chúc an khang thịnh vượng. Và dễ thương nhất là lời chúc "vạn sự như ý".
Dễ thương bởi vì nó nói lên đúng bản chất con người.
Tham!
Vâng, không tham sao mong đến cả vạn sự như ý.
Mà nếu vạn sự chẳng ngờ đều như ý cả thì ai đó cũng sẽ rơi vào cảnh tịch mịch cô liêu như kiếm khách Độc Cô Cầu Bại của Kim Dung, bởi lẽ cuộc đời không còn gì để tranh đấu.
Dễ thương bởi vì nó giả.
Biết đây trong số vạn sự con người kia khát khao không có một ước muốn muốn tiêu diệt, thôn tính người buông lời chúc đây!
Thôi thì hãy chúc "vạn sự gần gần như ý" để còn mang cảm giác thật.
Mà nếu thực tế hơn thì một sự (lớn nhất) như ý!
Bởi lẽ một sự như ý đã đủ khiến nhiều người sướng không bút nào tả xiết.
"Như ý" - là hai từ màu nhiệm để ai cũng mỉm cười. Nó là cấp thấp hơn (hình như thế) của hai từ Hạnh phúc.
Hạnh phúc là một cái - gì - đó thật khó nắm bắt. Con người dường như không ai đạt tới tột đỉnh hạnh phúc cả.
Có hạnh phúc nhỏ và hạnh phúc lớn.
Hạnh phúc nhỏ là khi bạn khát có nước uống - nó là sự đáp ứng nhu cầu tức thì. Còn hạnh phúc lớn mà bạn đạt được ước mơ lớn.
Nhưng thế nào là ước mơ lớn?
Có cần phải chinh phục vũ trụ mới là ước mơ lớn không? Hay chỉ là một vị trí trong công ty khi bạn mới là nhân viên tập việc.
Và liệu có công bằng không khi bạn chỉ nhăm nhăm vào công danh bạn mà không biết đến tình yêu.
Hạnh phúc lớn và hạnh phúc nhỏ.
Đấy là nói cho vui chứ hạnh phúc làm gì có lớn, nhỏ. Hạnh phúc là hạnh phúc. Vậy thôi. Nhưng nó thật vô cùng. Bởi có người cả đời tìm hạnh phúc mà nó như một kẻ chơi trò trốn tìm quá ác cứ lẩn tránh hoài. Để rồi bạn cứ phải đợi đến... mùa xuân.
Vì mùa xuân hình như hạnh phúc dễ tìm đến hơn.
Khi nhìn cảnh sắc thiên nhiên khi thấy vạn vật như cùng chung khúc ca của ánh sáng và nụ cười, mọi người ai cũng nên tươi tắn và giàu sinh khí hơn. Nhưng cố nhà thơ Xuân Diệu lại thốt lên:
"Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi đã mất"
Mùa xuân trần thế với Xuân Diệu thật gấp gáp, hối hả. Trái tim mong manh nhạy cảm của nghệ sỹ như không chịu đựng nổi. Vì hạnh phúc đến rồi đi, mà dường như không có hạnh phúc nào trọn vẹn.
Làm sao níu giữ được mùa xuân?
Bậc hiền triết Osho không dạy ai đó níu giữ mùa xuân vì ông cho rằng: thật kỳ lạ nếu mọi người cả năm trời khốn khổ và tự nhiên mùa xuân đến là có quyền nhảy múa, ca hát. Vậy hoặc khốn khổ là giả hoặc mùa xuân là giả, cả hai không thể là thật được. Và như thế hết mùa xuân là mọi người lại quay về với những khốn khổ của mình. Không, cuộc sống phải là lễ hội liên tục, liên hoan ánh sáng. Hãy biến những điều nhỏ bé thành lễ hội.
Mãn Giác thiền sư như vén mây mù cho chúng ta:
"Xuân đi trăm hoa rụng.
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đi rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai"
(Mãn Giác thiền sư)
Mùa xuân Phật giáo là sự an lạc trong tỉnh thức của từng phút giây. Không quá mong đợi mùa xuân đến, không vội âu lo khi mùa xuân đi. Bởi đó là quy luật của tự nhiên.
Bạn có thể vui cười khi đang nhảy múa trong công viên và trận mưa ào đến làm bạn ướt như chuột. Bạn cần nắng nhưng nơi khác cần mưa và liệu bạn có rộng lòng để vui với những người cần mưa hơn không? "Không ai tắm hai lần trên một dòng sông" - vì thế mỗi khoảnh khắc của thiên nhiên - cũng là khoảnh khắc của chính bạn - không thể lặp lại lần thứ hai. Hãy tận hưởng những khoảnh khắc đó thay vì lên án nó, vì thật ra bạn đâu làm gì nổi nó!
Nhưng đó vẫn là lý thuyết mà cây đời thì mãi xanh tươi như Goethe nói. Vì thế mỗi độ xuân sang, lòng bạn vẫn như trảy hội. Mùa hạ có vẻ nồng nàn, cuồng nhiệt, mùa thu mang sắc thái hoài niệm, vương vấn, mùa đông với vẻ ảm đạm như trút bỏ những gì tàn úa để xuân về lại bừng lên sự sinh sôi.
Xuân là xanh là màu của hy vọng. Mà hạnh phúc thực ra cũng nằm ở ngay chính niềm hy vọng đó.
(ST)
--------------------------------------------------------------------------------
Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011
Trong tiếng chuông chiều
Trong tiếng chuông chiều
“Con người chưa được vô biên
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm”
(Xuân Ly Băng)
Chiều lắng phủ không gian buồn ý chết,
Mây thê lương chở lệ về phương mô?
Gió lạnh lùng run rẩy lá cành khô
Chim từng chiếc qua sương chiều lặng lẽ…
Không gian ơi! Chiều nay tan thành lệ
Chảy trong người viễn khách cô đơn.
Nhớ nhung chi khi trời xuống hoàng hôn
Để buồn ngấm uất hồn, ai nức nở…
Người bâng khuâng khi trời chiều tắt thở,
Bỗng chuông vàng trong xóm giáo ngân nga.
Tiếng êm êm dìu dịu nhẹ lan ra
Qua gió chiều lên hương buồn ly biệt
Tiếng tôn giáo cùng người, ôi tha thiết!
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Chiều nay cảm thấy lạnh rồi phải không?
Ý đời rét buốt mênh mông
Đường đời cô quạnh trong không gian buồn!
Tình đời đen bạc mười phương
Men đời không dậy trong sương gió đời
Viễn khách ơi!
Viễn khách ơi!
Giờ đây cảm thấy lạnh rồi phải không?
Này nghe tiếng nhạc chuông trong
Lời AI VĨNH VIỄN nói cùng THỜI GIAN:
Tìm chi hoa nội trăng ngàn
Tìm chi hạnh phúc dương gian mà tìm?
Con người chưa được VÔ BIÊN
Là còn thổn thức ưu phiền tháng năm.
Này người viễn khách bâng khuâng
Đường lên ánh sáng đã gần không xa!
(ST)
Gọi tiếng Thầy với tất cả Tin Yêu
Gọi tiếng Thầy với tất cả Tin Yêu
Lm. Giuse Trương Đình Hiền
Quý Thầy, Cô, và tất cả những ai đã từng tham gia công tác giáo dục rất thân mến,
Tôi xin viết lại mấy câu thơ đã viết trong đoạn cuối của “bức thư ngày Nhà Giáo năm ngoái – 2010, để mở đầu cho bức thư ngỏ của năm nay – 2011:
Thời gian ơi xin dừng lại đừng trôi
Cho chúng con khoanh tay cúi đầu lần nữa
Gọi tiếng thầy với tất cả tin yêu…
Không biết, trong xã hội Việt Nam hôm nay còn có được bao em học trò “dễ thương, lễ phép” như thế nữa; không phải chỉ “lễ phép, dễ thương” với thầy cô chỉ trong “mùa nhà giáo”, để rồi trước và sau cái thời điểm “trả lễ thầy cô”, thì chỉ còn lại những thái độ vô lễ, những lời nói xúc phạm, những cử chỉ vong ân của cả một thế hệ học sinh mà nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh đã bực bội thốt lên trong bài thơ “Quê hương và chủ nghĩa”:
Chủ nghĩa dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghĩa dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghĩa dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghĩa dạy em, dối gian trăm ngả
Chủ nghĩa dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghĩa dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghĩa dạy em, vô thần đấu tố
Thế nhưng, cho dầu cả xã hội này có biến những thế hệ học sinh trở thành những công dân bất hảo, thì đối với những thầy cô mang căn cước Kitô, vẫn cứ phải xả thân để làm trọn sứ vụ “làm thầy, làm cô”, một ơn gọi cao quý và cần thiết cho xã hội muôn nơi và muôn thuở, như xác quyết của Giáo Hội qua “Tuyên Ngôn giáo dục Kitô giáo” của Công Đồng Vatican II: Các nhà giáo dục, nhờ liên kết với các bạn đồng nghiệp và với các học sinh trong tình bác ái và thấm nhiễm tinh thần tông đồ, sẽ làm chứng cho một vị Thầy duy nhất là Chúa Kitô bằng đời sống cũng như bằng lời giảng dạy… Thánh Công Ðồng cũng tuyên bố rằng chức vụ của nhà giáo là một hoạt động tông đồ đích thực, rất thích hợp và cần thiết cho thời đại chúng ta, đồng thời là một phục vụ chính đáng cho xã hội.
Trong khi xã hội đương thời càng ngày càng biến môi trường giáo dục trở nên môi trường kinh doanh và kiếm lợi nhuận, các thầy cô đua nhau vận dụng mọi kẻ hở trong cơ chế giáo dục phản tiến bộ để móc túi các học sinh, thì các thầy cô Công Giáo cần phải luôn tỉnh thức để mình khỏi bị cuốn vào vòng xoáy của vật chất và lợi nhuận bất chính. Giáo dục, theo quan điểm của Giáo Hội được minh xác qua văn kiện của Công Đồng Vatican II, là một đòi hỏi thiết yêu của mỗi một con người sinh ra trong trần thế. Gia đình, xã hội, trong đó có Giáo Hội, và mọi cơ cấu liên quan, đều phải có trách nhiệm cống hiến một nền giáo dục toàn diện và thích hợp cho mỗi người. Việc giáo dục trong đời sống con cái Chúa lại càng được chú trọng và quan tâm cách đặc biệt:
Mọi Kitô hữu, nhờ việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần, đã trở nên những tạo vật mới, được gọi là con Thiên Chúa và quả thực như thế, nên có quyền hưởng một nền giáo dục Kitô giáo. Nền giáo dục này không chỉ nhằm giúp con người được trưởng thành như vừa trình bày, nhưng cốt yếu là nhằm giúp những người đã rửa tội ngày càng ý thức hơn về hồng ân Ðức Tin đã nhận lãnh trong khi họ được hướng dẫn để dần dần hiểu biết mầu nhiệm cứu rỗi. Nền giáo dục ấy còn giúp họ biết cách thờ phượng Thiên Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4,23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như huấn luyện họ biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Eph 4,22-24). Nhờ vậy họ đạt tới con người hoàn thiện, tới tuổi sung mãn của Chúa Kitô (x. Eph 4,13) và góp phần vào việc tăng trưởng của Nhiệm Thể. Hơn nữa, vì ý thức được ơn kêu gọi của mình, chính họ phải tập thói quen minh chứng niềm cậy trông của mình (x. 1P 3,15) cũng như phải giúp cải tạo thế giới theo tinh thần Kitô giáo. (GDKTG số 2)
Cho dù ngày nay, trong đất nước Việt Nam này, không còn các cơ sở giáo dục thuộc quyền quản lý dành riêng cho Giáo Hội, (chỉ có một ít các trường mẫu giáo mầm non do các dòng nữ phụ trách), thì trách nhiệm “chuyển tải và làm chứng” một phương cách giáo dục theo tinh thần Phúc Âm vẫn phải được những người tham gia công tác giáo dục và các thầy cô Công Giáo ý thức và thể hiện bằng mọi cách. Đây không là một việc tùy tiện nhưng là một đòi hỏi cốt yếu trong sứ vụ “ngôn sứ” mà nhiệm tích Thánh Tẩy đã ân ban và chính Đức Kitô đã truyền lệnh:
“Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5,13-16)
Ước mong sao mọi thầy cô Công Giáo, cho dù ở cấp bậc nào, địa vị nào, môi trường nào, đều trở nên những “Chứng Nhân” cho Thầy Giêsu chí thánh; chứng nhân của sự thật, tình thương, lòng bao dung quảng đại, sự liêm khiết tín trung, sự công bằng và trách nhiệm. Bời vì, chỉ trong tư cách “chứng nhân” mà thiên chức thầy cô mới không bị xói mòn và giữ mãi vẽ đẹp cao quý, để các thế hệ học sinh và muôn người còn “Gọi tiếng thầy với tất cả tin yêu”, hay như lời của Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI phát biểu: “Con người ngày hôm nay tin các chứng nhân hơn các thầy dạy. Nếu họ có tin các thầy dạy, bởi vì đó chính là các chứng nhân”.
*
Thầy
Cơn gió vô tình thổi mạnh sáng nay
Con bỗng thấy tóc Thầy bạc trắng
Cứ tự nhủ rằng đó là bụi phấn
Mà sao lòng xao xuyến mãi không nguôi.
Bao năm rồi? Đã bao năm rồi hở? Thầy ơi…!
Lớp học trò ra đi, còn thầy ở lại
Mái chèo đó là những viên phấn trắng
Và Thầy là người đưa đò cần mẫn
Cho chúng con định hướng tương lai.
Thời gian ơi xin dừng lại đừng trôi
Cho chúng con khoanh tay cúi đầu lần nữa
Gọi tiếng Thầy với tất cả tin yêu…!





